Tết cổ truyền



Tôi có may mắn được một thời “đồng hương” Gò Vấp với lão nhà văn Sơn Nam, cái thuở ông già Nam Bộ “đi bụi” để đồng hành cùng ông với thời khóa biểu “sáng cà phê nhà truyền thống, chiều nâng cốc tiêu sầu quán Sáu Linh”. Dạo ấy thường thì trong cữ cà phê sáng chỉ đơn thuần là những tếu táo đời thường, còn buổi chiều tối trong lãng đãng chút hơi men chính là lúc tuôn chảy những hồi ức của ông về đồng quê Nam Bộ, đặc biệt là những khoảnh khắc tuyệt vời của mùa Xuân phương Nam…
Ông đã ra đi về cõi vĩnh hằng cùng với hương sắc đồng bằng Nam Bộ nhưng cũng xin nguyện một lần làm người hát rong những vần điệu Sơn Nam - kho tàng sống Nam Bộ…

Truyền thuyết về mâm ngũ quả
Mâm ngũ quả không thể thiếu trên bàn thờ cúng gia tiên, lúc giao thừa đất trời bang giao bước sang những ngày đầu năm mới. Buổi ấy, bằng chất giọng đặc sệt Nam Bộ, nhà văn Sơn Nam tâm sự (và chúng tôi cố gắng ghi nhận nguyên văn): “Xứ ta đi lên từ nông nghiệp và khi Tết đến, xuân về tràn đầy sinh khí, hoa màu càng nở rộ. Trên bàn thờ Tết luôn trưng bày mâm ngũ quả gồm mãng cầu, dừa, đu đủ, xoài, thơm. Đây là lộc thiên nhiên của đất trời tuy mộc mạc nhưng xuất phát từ kết tinh, tâm ý, từ thành quả lao động ruộng vườn của con người. Bằng tất cả lòng thành kính, con cháu khấn vái lâm râm mong tổ tiên phù hộ: “Cầu dừa đủ xài thơm” (phát âm theo giọng hồn nhiên Nam Bộ). Đó chính là tâm tư sâu lắng tự lòng thành của con người với ước mong tháng, năm luôn luôn được thanh bạch ấm no sung túc…”.

Các kiểu dáng bàn thờ
Theo cố nhà văn Sơn Nam: “Trong dân gian có ba dạng khác nhau. Đầu tiên là kiểu bàn thờ ông bà ta đưa từ miền Trung vào: Có bàn nghi ở giữa, có lư nhang, bộ chưng (chân) đèn liền bộ. Phía trong bàn thờ có đặt giường thờ. Phỏng định dạng bàn thờ này xuất hiện ở đất phương Nam vào năm 1890, khi chưa có bóng dáng đô thị hóa và tiếp cận văn hóa phương Tây.
Vào năm 1910, kiểu bàn thờ nhỏ gọn hơn, do thợ từ Bắc vào chạm trổ, cẩn xà cừ hoa văn chữ Hán. Cạnh bàn thờ có tranh vẽ trên kiếng (kính) nói về ước vọng sâu xa của con người muốn vươn tới chân, thiện, mỹ và cuộc sống ấm no, thịnh vượng, thái bình…
Vào đầu những năm 2000, xu thế lập bàn thờ thờ cúng tổ tiên đã phát triển rất nhiều: Ở một phòng tĩnh lặn tôn kính đắc ý nhất khu vực thờ tự được thiết kế đúc bêtông lát gạch men cao cấp bóng sạch, trang trí rất tinh tế, hoa đăng màu sắc hài hòa giữa tân và cựu nhiều tầng. Mặt bàn thờ rộng dài đến cả thước, dưới đáy bàn thờ chia nhiều hộc tủ đựng lễ vật và tài sản quý báu. Di ảnh thờ phụng kẻ quá cố nhỏ tầng thấp, các tầng trên là bậc ông sơ, ông cố… đẳng cấp vai vế lễ nghĩa rất rõ ràng.
Khi năm cũ bước sang những ngày đầu năm mới. Mồng một, mồng hai… Tết trở đi. Rộn ràng nhất là bầy con trẻ, kể cả những đứa bé còn ẳm trên tay và ngay cả các bậc người lớn gặp nhau đều: Mặt mày hoan hỷ, rạng rỡ tựa ánh xuân, chúc tụng nhau vạn lời hay, ý đẹp chân tình lễ nghĩa rồi “lì xì” cho nhau. Tập tục của dân ta xưa nay thật nồng thắm, đậm đà ý nghĩa khôn cùng”.

Tục lì xì ngày xuân
“Nguồn gốc tục “lì xì” có tự ngày xưa từ tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Hễ cứ mỗi dịp Tết đến là trẻ em thường hát chúc mừng người lớn, nhất là những người đã lập gia đình cung hỉ phát tài, lợi thị đại lai”. Tạm dịch là: Xin chúc phát tài lì xì vào túi.
Sau khi hát xong bọn trẻ đưa tay ra chờ đợi. Người lớn vui vẻ “lì xì”. Không xét nét số tiền nhiều hay ít. Hệ trọng hơn là phải có tiền mới toanh đựng trong phong bì màu đỏ tươi đỏ thắm, thể hiện sự may mắn phát tài…
Hai chữ “lợi thị” trong lời chúc Tết, đọc theo âm Quảng Đông là “lì xì” dần dà trở thành quen tai, và lưu truyền cho đến tận ngày nay…”.

Người kể chuyện ngày ấy, hồn ở đâu bây giờ?
Hôm nay bên cửa sổ mùa xuân chuyến phà cuối năm giữa lồng lộng sông nước ĐBSCL, tôi nhớ quay quắt cái ngày này hôm ấy và cái nheo mắt tinh nghịch lúc dàn trải hồi ức và cái cách kết thúc có hậu của cố nhà văn Sơn Nam: Như để kết thúc câu chuyện hồi ức về những ngày thân ái đã qua, tự trong đáy mắt xa xăm, lão nhà văn gật gù nhận định (và chúng tôi cũng muốn mượn để thay lời kết cho bài khai bút đầu xuân): “Trên quê hương ba miền đất nước ta, trải qua hết bao thời kỳ đô hộ của ngoại bang, nhưng dân tộc vẫn đời đời gìn giữ nâng niu phong tục tập quán của tổ tiên, đậm đà bản sắc, sâu đậm nghĩa tình, thật là rõ nét truyền thống trong những dịp Tết đến xuân về...”.

Phương Đình Nguyễn