Tuổi Hạc

Nguyễn Ngọc Ngạn



Cách đây mấy năm tôi làm M.C. cho Hội Chợ Tết cộng đồng. Nhân lúc nhường lại sân khấu cho các chính khách Canada thay nhau lên phát biểu, tôi đi lang thang thăm các gian hàng. Lúc ghé vào Làng Việt Nam thì có mấy cô gái chạy lại chào tôi. Một cô đang cầm tờ Đặc San TUỔI HẠC hăm hở nói với tôi:
- May quá cháu gặp chú… Tuổi Hạc là tuổi gì chú Ngạn?
Vì không có thì giờ nên tôi trả lời vắn tắt:
- Cháu chỉ cần hiểu một cách đơn giản: Tuổi Hạc tức là tuổi già. Như vậy là đủ rồi!
- Con nhỏ này nó cãi với cháu là tuổi Hạc cũng giống như tuổi Ngọ, tuổi Mùi. Cháu nói không phải, vì cháu tìm trong mục Tử Vi Trọn Năm trên tờ Thời Báo thì không thấy có tuổi Hạc!
Đến lượt tôi phì cười vì lần đầu tiên nghe một chuyện lạ. Các cháu lớn lên ở bên này không biết nhiều về văn hóa Việt, nên có cháu lầm tưởng con Hạc cũng nằm trong 12 con Giáp: Tý, Sửu, Dần, Mão… và khi cầm tờ Đặc San TUỔI HẠC thì cháu yên trí đó là sách đoán vận mạng trọn năm dành riêng cho những người tuổi Hạc! Cũng có thể do một “người lớn” nào đó nói đùa với các cháu như vậy và các cháu tưởng thật nên hỏi tôi cho chắc. Tôi nói:
- Theo tử vi của Tàu thì trong 12 con Giáp không có con Mèo nên họ thay bằng con Thỏ, nhưng cả Tàu lẫn Ta đều không có con Hạc!
Các cô cám ơn tôi rồi hân hoan kéo nhau đi.
Nhớ lại câu chuyện vui năm ấy, tôi muốn viết đôi dòng về con Hạc, bởi vì nếu cứ theo cách nói của môn tử vi nhân gian thì tất cả những người già như tôi đều đang “cầm tinh con Hạc”, và rồi thế hệ này nối tiếp thế hệ khác, ai ai cũng sẽ cầm tinh con Hạc, không có ngoại lệ.
Ở Mỹ và ở Canada, tuổi cao niên thường được gọi bằng một cái tên rất đẹp là “golden age” (tuổi vàng), nhằm bày tỏ lòng quý trọng đối với lớp người đã một đời đóng góp tài năng và công sức cho xã hội. Hồi mới qua đây, tôi coi cuốn TV Guide, thấy có show “Golden Girls” tôi cứ tưởng diễn viên trong show này phải gồm nhiều cô gái trẻ đẹp vì nội cái tên show đã đủ hấp dẫn rồi nên tôi háo hức đón xem. Buổi tối bật TV lên mới thấy Golden Girls chỉ toàn là bà già, nghĩa là những phụ nữ đã bước vào cái thế hệ mà người ta âu yếm gọi là “tuổi vàng”.
Người Việt chúng ta sang đây cũng bắt đầu dùng hai chữ “Tuổi Vàng” để chỉ người già giống như Mỹ, nhưng từ trước đến nay hễ nhắc đến các bậc lão thành, chúng ta vẫn quen gọi là “Tuổi Hạc”, chẳng hạn như Đặc San Tuổi Hạc của Hội Cao Niên Toronto, hoặc Nhà Dưỡng Lão Tuổi Hạc đang được vận động xây cất ở thành phố này.
Tại sao lại gọi tuổi già là tuổi hạc?
Có thể trả lời ngay: Vì đặc tính của con chim hạc cùng những truyền thuyết liên quan đến loài chim này.
Trước hết, Hạc là một loài chim có màu lông trắng toát, cho nên xét về hình ảnh, nó rất gần gũi với mái tóc bạc phơ của người trọng tuổi. Dĩ nhiên thời bây giờ nhiều người đã cao tuổi mà vẫn phải nhuộm tóc vì lý do này hoặc lý do khác – trong đó có lý do chính là nghề nghiệp. Những ngày trước, hễ lớn tuổi là cứ để mái tóc bạc tự nhiên, như câu thơ của Đoàn Văn Cừ tả phiên chợ Tết:
Bà cụ già bán hàng bên miếu cổ
Nước thời gian gội tóc trắng phau phau

Xã hội Việt Nam xưa có truyền thống trọng người già, mà “tóc trắng phau phau” chính là biểu tượng của người tuổi già, nên chẳng ai dại gì mà nhuộm đen! Ở nhiều làng xã, mới 50 tuổi đã được “lên lão” mà “lên lão” là một vinh dự lớn lao trong làng… Người ta mong đợi “Sống lâu lên lão làng”, bởi từ đây sẽ được miễn tạp dịch, miễn công việc làng, thậm chí có nơi cho miễn cả sưu thuế. Rồi hễ có cỗ đám trong làng thì được mời ngồi lên chiếu trên, trong hàng ngũ những vị trưởng thượng hay tiên chỉ. Xóm làng xưa có câu “Triều đình trọng tước, hương đảng trọng xỉ”. Xỉ là cái răng, ở đây nói về tuổi tác, bởi càng già thì càng rụng răng. Hoàn cảnh xã hội ngày xưa của cha ông ta, ít người có cơ hội đi học, nên bằng cấp quá hiếm quý, được cộng đồng trọng vọng tối đa. Vì vậy mà lệ làng ấn định rằng, người 60 tuổi thì được ngồi ăn chung chiếu với tú tài. Bảy mươi tuổi được xếp ngang hàng với cử nhân và tám mươi thì đồng hàng với tiến sĩ! (Lục thập dữ tú tài đồng, thất thập dữ cử nhân đồng, bát thập dữ tiến sĩ đồng). Vì những đặc ân dành cho tuổi tác một cách ưu đãi như thế, ai ai cũng mong cho mau già chứ tội gì mà nhuộm tóc cho trẻ lại! Ngay cả những cụ già như Nguyễn Trãi, Nguyễn Công Trứ, cưới vợ trẻ mười mấy tuổi, cũng vẫn để đầu bạc, không cần phải khổ sở nhuộm tóc đen như những cụ Việt kiều ngày nay về Việt Nam tìm đào trẻ!
Kính lão đắc thọ, bảy mươi học bảy mốt, Hội nghị Diên Hồng vua nhà Trần ân cần hỏi ý kiến các bô lão, nói chung, đó là nét văn hóa trọng người lớn tuổi của xã hội Việt Nam, cho nên các cụ cứ để râu tóc bạc phơ, tạo hình ảnh đẹp như các vị tiên ông! Ở những bộ tộc của các sắc dân miền núi xưa nay mỗi làng đều có “hội đồng già làng” gồm các bậc cao niên là những người thật sự được nắm giữ quyền hành trong làng, bởi dân chúng quan niệm rằng muốn sống còn bằng nghề nông hay đi săn, chủ yếu phải học kinh nghiệm của người già! Ngay ở miền xuôi, làng xã vẫn có hội đồng kỳ mục hoặc Hương cả gồm toàn người già giữ vai trò cố vấn để duy trì những tập tục của làng xã.
Tựu trung lại, nét văn hóa truyền thống của Việt Nam là kính nể người lớn tuổi, nên hình ảnh con chim hạc trắng toát rất gần gũi với mái đầu bạc phơ của các cụ.
Vì chim hạc màu trắng nên đôi khi sách vở cũng thường nhấn mạnh bằng cách gọi rõ là “Bạch Hạc”. Ở Phong Châu, kinh đô nước Văn Lang thời vua Hùng dựng nước, có làng Bạch Hạc còn tồn tại đến hôm nay ở tỉnh Vĩnh Phú, được mô tả trong sách Quốc sử Diễn ca:
Hùng Vương đô ở Châu phong
Ấy nơi Bạch Hạc hợp dòng Thao giang
Đặt tên là nước Văn Lang
Chín mươi lăm bộ bản chương cũng liền.

Sông Thao là tên gọi một đoạn song Lô và làng Bạch Hạc cách Hà Nội vào khoảng 70 cây số, giờ này vẫn còn giữ được truyền thống mở hội Xuân hằng năm mà quan trọng nhất là tục đua thuyền trên sông Lô. Theo các cụ tại đây thì đua thuyền không hẳn chỉ là vui chơi mà có mục đích sâu xa là luyện tập thủy quân phòng khi chống giặc xâm lăng.
Không thấy có sách nào ghi rõ tại sao làng ấy có tên là Bạch Hạc, nhưng ai cũng đoán rằng, thời đó, nơi vua Hùng lập kinh đô chắc đã phải xuất hiện nhiều chim hạc nên mới gọi là làng Bạch Hạc. Nó cũng giống như một vùng đất trũng ở Biên Hòa, có rất nhiều nai tụ tập về nên người ta đặt tên vùng đó là Hố Nai. Phong Châu tuy là kinh đô, nhưng đừng quên khi vua Hùng dựng nước Văn Lang thì chung quanh chỉ toàn là núi rừng chập chùng, chứ đâu đã được đô thị hóa như ngày nay. Chim hạc tập trung từng đàn trắng toát bay về nên mới có tên làng Bạch Hạc trên bờ sông Lô còn truyền đến hôm nay. Như vậy thì Bạch Hạc chắc hẳn là một trong những làng thành hình lâu đời nhất của nước ta, bởi theo các tài liệu cập nhật khả tín nhất hiện nay thì vua Hùng đầu tiên lập quốc vào khoảng 700 năm trước Công nguyên, lúc ấy là đời vua Chu Trang Vương bên Tàu. Vô tình con chim hạc gắn liền với lịch sử lập quốc của nước ta. Hay nói cách khác, từng đàn hạc trắng khắp bốn phương đã bay về Phong Châu để chứng kiến việc tạo dựng kinh đô nước Văn Lang các đây khoảng 2700 năm!
Một vài tài liệu sử mới đây còn cho rằng sở dĩ dòng Lạc Việt lấy họ Hồng Bàng vì Hồng Bàng có nghĩa là “chim hạc lớn”. Trong chuyện dân gian, ta hay gặp chữ “chim đại bàng”. Nhưng chữ “hồng” có nghĩa bao la, vĩ đại hơn cả chữ “đại”, chẳng hạn ai cũng còn nhớ “trận hồng thủy” làm ngập lụt toàn cầu, được ghi lại trong Kinh Thánh.
Như vậy thì ngay từ buổi ban sơ, tổ tiên ta đã lấy biểu tượng “con chim hạc lớn” để dùng làm họ cho triều đại đầu tiên của nước ta, đó là họ Hồng Bàng.
Thi sĩ Thôi Hiệu bên Trung Hoa có bài thơ nổi tiếng tựa đề là Hoàng Hạc Lâu, tức là lầu hay tháp chim hạc vàng. Bài này đã được rất nhiều người dịch sang tiếng Việt, phổ biến nhất là bản dịch của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu:
Hạc vàng ai cưỡi đi đâu
Mà đây Hoàng Hạc mái lầu còn trơ
Hạc vàng đi mất từ xưa

Ngàn năm mây trắng bây giờ còn bay! Cái ý hoàng hạc (hạc vàng) chắc chỉ để nhấn mạnh đến một con chim quý chứ chưa hẳn con chim hạc ấy đã có lông màu vàng. Bởi vì nguồn gốc con hạc vàng phát xuất từ một truyền thuyết: Phí Vân Vi, một nhà tu đắc đạo đã biến thành tiên, thường cưỡi hạc vàng ngao du sơn thủy. Người đời sau mới xây tháp Hoàng Hạc Lâu ở tỉnh Hồ Bắc bên bờ sông Dương Tử vào thời Tam Quốc, khoảng năm 223, để nhớ tới sự tích này. Vài trăm năm sau đến đời Đường, thi sĩ Thôi Hiệu ghé thăm Hoàng Hạc Lâu, bâng khuâng nhớ chuyện xưa, nhớ con hạc vàng không còn nữa, nên để bài thơ thất ngôn bát cú trên vách, ai đọc cũng khen là tuyệt tác như tôi vừa trích dẫn ở trên:
Hạc vàng ai cưỡi đi đâu?
Mà nay Hoàng Hạc mái lầu còn trơ!

Làm gì có hạc vàng mà cưỡi? Mà dù có đi chăng nữa thì con chim gầy guộc ấy làm sao đủ sức cho người ta ngồi trên lưng rồi cất cánh bay lên! Việc tiên ông Phí Vân Vi cưỡi hạc đi tham quan đây đó thì cũng giống như Thái thú Cao Biền đời Đường cưỡi diều bay trên thành Đại La để yểm bùa dân Việt, hoặc bà Thiên Hậu cưỡi chiếu bay trên mặt biển để cứu vớt các ghe thuyền gặp nạn, hay Phù Đổng Thiên Vương cưỡi ngựa sắt đi đánh giặc Ân. Tất cả đều chỉ là những mẩu chuyện thêu dệt, hoang đường, kể cho nhau nghe để mua vui mà thôi.
Hạc là một loài chim cao quý, có người còn cho là linh thiêng, nên cha ông ta mới có câu tục ngữ “Đĩa đeo chân hạc” để chỉ những người không tự biết thân, cứ cố leo cao, vượt quá địa vị và khả năng của mình.
Về hình dáng thì hạc là loài chim gầy, thanh nhã, nên mới có câu “mình hạc vóc mai”. Ngày xưa, người ta thường treo tranh vẽ hình hai con hạc đứng bên nhau, ngước nhìn lên cao. Cái nền chung quanh chim hạc thường là tùng bách hoặc hồ sen, là những thứ biểu tượng cho sự thanh cao. Có những gia đình cũng trưng bày đôi chim hạc bằng đồng đặt trên tủ thờ, ngày Tết ngày lễ đem xuống lau chùi sáng bóng.
Một đặc điểm nữa là hạc bay rất cao, tiếng hót trong suốt, nên khi Nguyễn Du tả tiếng đàn của Thúy Kiều mới có câu:
Trong như tiếng hạc bay qua
Đục như tiếng suối mới sa nửa vời.

Trước năm 1975 ở Sàigòn, nhiều người cũng đã từng xem vở tuồng cải lương “Tiếng Hạc Trong Trăng”, gợi cái ý xa thăm thẳm của tiếng hót con chim hạc bay lưng trời. Nhưng cái ý chính mà người ta dành hai chữ “Tuổi Hạc” cho các bậc cao niên là bởi vì chim hạc biểu tượng cho sự trường thọ và may mắn, đồng thời chim hạc cũng dính liền với cõi tiên. “Cưỡi hạc về trời” hoặc “Cưỡi hạc lên tiên” là những câu quen thuộc mà ta có thể tìm thấy dễ dàng trong truyện, trong thơ ngày trước. Nói cách khác, chim hạc chính là nhịp cầu kết nối giữa cõi tiên và cõi tục. Có lẽ cũng vì thế mà kinh đô của vua Hùng mới có làng Bạch Hạc để phù hợp với truyền thuyết con Rồng cháu Tiên. Bài Tống Biệt của Tản Đà đã nói lên cái ý chim hạc đưa người trần lên cõi tiên bằng hình ảnh rất đẹp:
Đá mòn, rêu nhạt, nước chảy, hoa trôi
Cái hạc bay vút lên tận trời
Trời đất từ nay xa cách mãi
Ngàn năm lơ lửng bóng trăng trôi.

Sau đó Thế Lữ viết bài Tiếng Sáo Thiên Thai lại có câu:
Trời cao xanh ngắt. Ô kìa!
Hai con hạc trắng bay về Bồng Lai.

Chuyện hai chàng Lưu, Nguyễn đời nhà Hán bên Trung Hoa, đi hái thuốc vào dịp Tết Đoan Ngọ, rồi lạc vào động Thiên Thai và lấy vợ tiên, chắc hẳn ai cũng nhớ. Nhắc đến Bồng Lai tức là cõi tiên, thì không thể không liên tưởng đến loài chim hạc, bởi chỉ có chim hạc mới đủ sức bay xa, bay cao lên đến tận cõi tiên. Cũng giống như chỉ có cá chép mới đưa nổi Ông Táo lên trời ngày 23 tháng Chạp mỗi năm, vì theo truyền thuyết, chỉ có cá chép mới vượt được vũ môn để biến thành rồng.
Như vậy tổng kết lại, chúng ta thấy chắc được một điều khá rõ ràng là người ta dùng hai chữ “Tuổi Hạc” vừa để chúc thọ các cụ, vừa nhân tiện cũng để nhắc các cụ nhớ rằng mình có thể cưỡi hạc lên tiên bất cứ lúc nào!
Duy có điều tôi xin lặp lại là ngày xưa lúc Lưu Thần, Nguyễn Triệu đi lạc vào chốn Thiên Thai, rồi lấy vợ tiên. Vợ tiên thì chắc chắn phải rất đẹp vì ai cũng bảo “đẹp như tiên”! Thế mà hai chàng may mắn ấy chỉ lưu lại trên cõi tiên được có nửa năm rồi dứt khoát từ giã vợ tiên để quay về với vợ tục, dù hai nàng vợ tiên hết lời năn nỉ. Tại sao lại như vậy? Là vì các bà vợ trần gian tuy hay nói nhiều và có thể lâu lâu lấn át chồng, nhưng lại có sức hấp dẫn mãnh liệt khiến ông chồng nào đi xa cũng nhớ, dù đang ở ngay bên cạnh những nàng tiên! Điều đó chứng tỏ cõi tiên không hơn gì cõi trần.
Viết đến đây, tôi muốn nhắc thêm một chi tiết: Ít khi nào chúng ta thấy người Tàu mang họ Nguyễn; họ Lưu thì dĩ nhiên là điển hình của Hán tộc, bắt đầu từ Lưu Bang tức là Hán Cao Tổ. Trong chuyện này, Lưu Thần và Nguyễn Triệu, một Hán và một Việt, cùng đi hái thuốc rồi cùng lạc vào động tiên. Người nào nghĩ ra chuyện này kể cũng lạ, vì trong biết bao nhiêu điển cố, hoặc văn học, hoặc lịch sử Trung Hoa, chúng ta chưa bao giờ bắt gặp một nhân vật họ Nguyễn! Chỉ có câu chuyện này, vì có họ Nguyễn trong đó mà mỗi lần đọc lại tôi đều cảm thấy ngậm ngùi. Bởi vì Thiên Thai là tên một ngọn núi ở vùng Chiết Giang mà Chiết Giang là quê hương cũ của Việt tộc, hùng mạnh nhất vào khoảng 500 năm trước Công nguyên, sau khi vua Việt Câu Tiễn dùng mỹ nhân kế Tây Thi đánh bại được nước Ngô và làm bá chủ các chư hầu. Nhưng rồi nước Việt bị nước Sở dẹp tan, bị xóa hẳn trên bản đồ Trung Nguyên. Từ đó dân Việt hoặc bỏ trốn xuống hẳn miền Nam nhập vào dòng Lạc Việt của nước ta là vua Hùng Vương lúc ấy đã lập quốc được vài trăm năm. Những người dân Việt khác nán lại trên đất Trung Hoa, sống rải rác ở vùng Thiên Thai, lập thành từng nhóm nhỏ, ai cũng tự xưng là “quận trưởng”, cho đến khi Tần Thủy Hoàng thu gồm lục quốc thì tất cả các nhóm Việt tộc này đều ra hàng.
Chẳng phải riêng Chiết Giang mới là đất cũ của người Việt. Giáo sư La Sĩ Bằng, dạy đại học ở Hương Cảng, có bài nghiên cứu về đại tộc Bách Việt và khẳng định rằng: “Từ đời Thượng cổ cho đến đời Tần Hán, những dải đất hiện nay gọi là Chiết Giang, Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam xuống tới Bắc Việt và Trung Việt đều là lãnh thổ của người Việt”. Riêng trong bài này, tôi chỉ nhấn mạnh đến Chiết Giang bởi vì sau khi nước Việt cuối cùng trên đất Trung Hoa bị nước Sở đánh tan, thì người Việt định cư rải rác đông đảo nhất ở vùng Chiết Giang, quanh chân núi Thiên Thai, dần dần bị đồng hóa, quên hết cả cội nguồn Việt tộc của mình.
Chuyện Lưu Thần và Nguyễn Triệu gặp tiên ở Thiên Thai tuy là chuyện Tàu, nhưng đây là chuyện duy nhất có nhân vật mang dòng họ Nguyễn như tôi vừa nói ở trên, có thể vì chuyện xảy ra tại quê cũ của Việt tộc. Vì cuộc sống lầm than, nên con người hay mơ ước và tưởng tượng. Nhìn ngọn núi Thiên Thai kỳ bí họ cho rằng trên núi ấy có động tiên, kỳ thực trên thế gian này làm gì có tiên!
Câu chuyện Lưu, Nguyễn đang sống với tiên mà cứ nằng nặc đòi về, cho chúng ta một thông điệp rằng: Đừng mơ ước những thứ quá cao xa, bởi những thứ ấy chưa chắc gì đã hơn những thứ mà hiện tại chúng ta đang có!
Nhìn một cách thực tế, Tuổi Hạc chính là tuổi giao thời giữa cõi tiên và cõi tục. Đó là giai đoạn cuối đời ở trần gian mà ai cũng cần giữ cho tâm hồn thư thái, bỏ lại sau lưng tất cả những phiền muộn cơm áo của bao nhiêu tháng năm lăn lộn trong cuộc sống vật chất. Cổ nhân đã nhắc nhở: “Ngũ thập tri thiên mệnh. Lục thập nhi nhuần nhĩ”. Năm mươi tuổi là biết rõ mệnh trời an bài cho đời mình như thế nào rồi. Sáu mươi tuổi thì nghe chuyện gì cũng thấy xuôi tai, chẳng còn bận tâm tranh cãi nữa. Cái thuyết hưởng nhàn xa lánh vòng lợi danh của Trạng Trình và bao nhiêu nhà Nho thuở trước, thực ra chỉ là lời đề nghị tuổi già nên tránh mọi ưu phiền tục lụy vì địa vị hay tiền bạc có hay không thì cũng đã xong rồi. Hãy để những vướng bận của thời bồng bột qua đi, gạt hết mọi căng thẳng vốn đã dày đặc trong cuộc sống. Hãy như cánh chim hạc bay cao, rũ sạch bụi trần. Người nặng niềm tin tôn giáo thường tìm đến chùa, đến nhà thờ, hoặc làm việc phúc thiện, bởi chính những hoạt động tinh thần ấy sẽ giúp người ta tự cảm thấy hạnh phúc hơn, tâm hồn bình yên hơn.
Đời người không ai có thể tự hào mình không có lần lầm lỗi. Tuổi già chính là lúc để nhìn lại để suy nghiệm và chuẩn bị cho một hành trình mới, không biết sẽ xảy đến lúc nào!
Tôi sinh năm 1945. Mất miền Nam khi đúng 30. Lưu lạc 10 năm qua vài trại cải tạo, vượt biên đến Mã Lai, tạm cư ở vài thành phố Miền Tây, rồi đúng 40 tuổi thì qua Toronto và dừng chân luôn cho đến nay. Nếu tính theo tuổi ta thì năm nay (2014), tôi hân hoan bước vào cái tuổi mà người xưa gọi là “thất thập cổ lai hy”!
Nhân sinh như bạch câu quá khích! Quả đúng như vậy! Đời người lướt nhanh như vó ngựa vút qua cửa sổ. Mới hôm nào về đây nhìn tờ Tuổi Hạc bằng cặp mắt xa lạ vì nó chưa dính dáng tới mình! Bây giờ thì chính mình đang “cầm tinh con hạc” đã cả chục năm nay! Tôi thường nói trên Paris by Night: Con người vừa sinh ra đã phải đối diện biết bao nhiêu bất công: giàu, nghèo, đẹp, xấu, cao, thấp, khôn, dại, trời định sẵn cho từng người không chọn lựa hay thay đổi được. Chỉ có một điều công bằng là ai cũng sẽ già, không ai có thể trẻ mãi! Hãy đón nhận tuổi già như một món quà tặng Trời ban cho để nghỉ ngơi an nhàn. Trước thềm năm Kỷ Hợi 2019, xin kính chúc quý vị cao niên vui hưởng tuổi già, tâm hồn thư thái, đầm ấm bên con cháu và hãy khoan cưỡi hạc lên tiên!