Tản mạn về con trâu



Trong văn hóa đại chúng, hình tượng con trâu khoẻ mạnh, cực nhọc, gắn liền với lũy tre làng xanh ngắt, với đồng quê bình dị, thôn xóm mộc mạc, với cuộc sống nhọc nhằn của người dân quê Việt Nam. Con trâu còn gắn liền với tuổi thơ vụng dại qua hình ảnh những chú bé chăn trâu hay len trâu, vui đùa với trâu, tắm trâu, cưỡi trên lưng trâu, thả diều, bên những vựa lúa chín vàng. Trâu có vai trò quan trọng trong nông nghiệp lúa nước, cho sức kéo cày nặng nhọc. Trâu còn là con vật dùng vào việc lễ tế thần thánh, cung cấp thịt và sữa cho con người.

Công việc đồng áng vất vả, nặng nhọc nhưng người nông dân luôn có một “ người bạn cần mẫn” bên cạnh giúp đỡ, chăm chỉ làm việc chung với nhau. Dù mưa hay nắng, ngày hay đêm thì những chú trâu vẫn cày cấy cùng người nông dân đem lại sự ấm no cho cuộc sống của người dân. Sở dĩ giữa con người và con trâu có mối quan hệ thân thiết như những người bạn thủy chung, vì giữa con trâu và con người có những đức tính rất giống nhau. Trâu giống như người nông dân hiền lành, thật thà, chất phác, chăm chỉ, cần cù, hay chịu thiệt thòi, vất vả một nắng hai sương. Đã vậy, trong đám gia súc gần gũi con người, chưa có con vật nào làm việc cật lực, giúp chủ mưu sinh đắc lực bằng trâu. Cả đời, trâu chỉ biết nai lưng, gồng cổ ra làm quần quật trong vũng sình lầy, giúp gia đình chủ no cơm ấm áo, không hưởng được lạc thú nào ở đời, đến khi già yếu lại bị xẻ thịt, phơi da, cắt móng, đem bán lấy tiền về cho chủ. Sinh ra làm con thú khác như lợn, mèo, chó, tuy có khi bị giết thịt, còn được an nhàn no cơm ấm cật lúc sống. Sinh ra làm thân trâu, rõ ràng đúng là chỉ để trả Nghiệp, trả nợ một đời dãi dầu mưa nắng, rã rời xương cốt chưa đủ, lúc chết cũng không được an nghỉ nguyên lành thân xác.

Trâu là con vật to lớn, hiền lành, có sức mạnh, nhưng lại nặng nề, chậm chạp, không lanh lợi như vượn, khỉ, mèo, chuột. Cái gì cũng chậm, nhai cỏ, vẫy đuôi, lội nước, bước đi…. Trâu như ông già đủng đỉnh, nhân hậu, từ tốn, không màng bon chen danh lợi như đám người háo danh, ngựa non háu đá. Nhưng trời sinh, người cũng như vật, hễ hiền quá thì lại hay cọc, nên đôi khi, giống như voi, trâu có thể nổi điên rượt người hay cọp chạy có cờ và dùng sừng để chém. Khi đã điên lên thì vô cùng hung dữ, sức mạnh vô song, quyết đánh kẻ thù tới chết mới thôi. Trâu ăn uống đơn sơ giản dị, chủ không phải tốn tiền mua thức ăn như heo, gà, chó, ngựa. Trời còn mưa, cỏ còn mọc thì trâu tự lo cho đầy bao tử, không chê khen, làm phiền đến chủ. Ngày thì làm lụng, lúc nghỉ ngơi ung dung gặm cỏ, đêm đến thì phơi mình ngoài sân, màn trời chiếu đất, yên lặng ngủ nghỉ. Trâu là "voi của đồng cỏ", bụng to như thùng rượu vang, sừng cong nhọn bén như hai thanh đao sắt, sẵn sàng đương đầu với cọp beo. Trâu to lớn, sức khỏe vô địch, nhưng không ăn thịt, không tranh giành thức ăn các thú khác. Nghé con còn bú sữa trâu mẹ, khi đầy năm thì bắt đầu ăn cỏ non. Cỏ thì ở đâu cũng có, con người không phải lo vấn đề lương thực, hay phải chia sẽ bớt thức ăn mình cho trâu.

Từ khi được thuần hóa, trâu là một trong những con vật rất gần gũi với con người. Ruộng lúa là ruộng lầy nên dùng trâu trong việc cày bừa có năng suất cao hơn dùng bò. Trâu là máy cày, máy kéo của nông dân. Vì lẽ đó, trước khi có máy cày, việc giết trâu để ăn thịt gần như đồng nghĩa với phá hủy phương tiện sản xuất và giết hại loài động vật giúp cho nông dân giảm bớt sự lao lực.
Đối với nông dân Việt Nam con trâu là một sản nghiệp to lớn, ba biến cố quan trọng đối với người Việt ngày xưa là: Mua trâu - Cưới vợ - Xây nhà.
Việc thờ Ngưu Thần được tìm thấy ở Sumer, miền Nam Iraq bây giờ, qua thần Enlil và ở Ai Cập cổ vào năm 3200 trước Tây lịch với thần Apis ở Memphis. Theo huyền thoại Hy Lạp thần Zeus, tức thần Jupiter của người La Mã, được bò cái nuôi dưỡng. Ngày xưa dân đảo Crete, Hy Lạp, cho rằng ngưu thần tượng trưng cho mặt trời và sự sinh sôi nẩy nở.
Tương truyền, Lão Tử chán thế sự cưỡi trâu xanh đi ẩn. Ông Doãn Hỷ đang làm quan giữ ải Hàm Cốc níu lại: "Nếu ngài quyết đi ẩn cư xin vì tôi để lại một bộ sách!". Lão Tử bèn ở lại cửa ải Hàm Cốc viết bộ Đạo đức kinh và dặn Doãn Hỷ cứ tu theo đó thì đắc đạo. Do đó, Đạo đức kinh còn được gọi là sách Lão Tử.

Đối với đạo Phật, con trâu cũng là một trong những con thú được nhắc đến (súc sanh) trong kinh.
Thập mục ngưu đồ là mười bức họa chăn trâu nổi tiếng trong thiền tông, vẽ con trâu và những chú mục đồng, mô tả thứ tự quá trình diễn biến trong tâm thức của người vận dụng sự hành thiền trong cuộc sống. Tu đến mức không còn thấy có người, có ta nữa thì đã khá, nhưng phải đến khi cái biết ấy cũng không còn nữa mới thực là hoàn toàn giải thoát.
Người theo đạo Phật không ăn thịt trâu. Những người thờ Quan Công, học bùa ngải không ăn thịt trâu. Người theo Ấn Độ giáo không ăn thịt bò vì bò Zebu được xem là vật thiêng.

Trâu khỏe hơn bò, thịt dai và không ngon như thịt bò, nhưng sức lao động làm ra của cải vật chất rất cao, nên những dân tộc thiểu số Viêt nam có tục lệ nhà gái thách cưới đàng trai bằng trâu bò. Có trâu bò thì có thóc lúa, cơm gạo; thóc lúa có thể đổi lấy quần áo, nữ trang, nhiều thức ăn khác, không sợ đói.
Đối với người Chăm ở các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, con trâu là con vật không thể thiếu trong nghi lễ phong tục. Trâu là lễ vật dâng cúng thần linh, ông bà, cha mẹ, thu hút sự chăm lo giúp sức của người thân và bà con láng giềng. Cứ 7 năm một lần, vào tháng 7 lịch Chăm, một con trâu trắng dùng làm lễ vật được đem dâng cúng với nghi lễ linh đình tại chân núi Đá Trắng (núi Giang Patao) thuộc làng Như Bình, Phước Thái, Ninh Phước (Ninh Thuận).
Với người Sán Chay, nhà cửa được xây theo hình tượng một con trâu thần (thuỷ ngưu). Bốn cột chính tượng trưng cho 4 chân, rui mè như là xương sườn, nóc là sống lưng. Thùng cám được đặt ngay chân cột chính, cạnh cửa ra vào chính là dạ dày của trâu thần, người và gia súc bám vào đó mà sống. Đó là chỗ linh thiêng trong nhà, là nơi thờ thần của gia đình. Trâu mang đậm yếu tố vật linh trong tính ngưỡng của người Sán Chay.
Đối với người Thái, con trâu đóng một vai trò rất quan trọng trong sản xuất và đời sống với câu tục ngữ: Con trâu là "cái nền nhà". Khi Tết đến, họ thường cho trâu ăn bánh chưng, lá dong...
Nhiều cư dân vùng Trường Sơn, Bắc Tây Nguyên, từ xưa đã nhận con trâu làm vật tổ trong tín ngưỡng tô tem của mình. Tục đâm trâu, giết trâu tế Dàng, ngày nay vẫn còn ở một vài nơi, như miền Tây Nguyên Việt Nam. Họ đánh đồng la, thổi kèn khi con trâu bị giết. Khi giết xong, thịt được mang cúng thần, sau đó được phân chia cho bữa ăn tập thể.
Với người M’nông thì trâu là con vật quý, đứng thứ hai sau voi, nên gia đình nào có trâu trong nhà được xem là giàu có. Người M'Nông thường dùng trâu để giải quyết các việc lớn trong gia đình, dòng họ và cho cả buôn làng. Mua chiêng bằng trâu, mua ché bằng trâu, dựng nhà, cưới gả, các lễ hội mừng được mùa hàng năm bằng trâu. Trong luật tục, những tội trạng vi phạm nghiêm trọng các quy định của cộng đồng như xúc phạm thần linh, làm những điều người ta kiêng cữ, loạn luân đều dùng trâu để phạt vạ hoặc cúng xóa tẩy tội lỗi.
Đối với Người Cơ Ho hay còn gọi là người Lạch thì con trâu là tài sản quý giá nhất rồi mới đến chiêng, ché. Giống trâu Lang Biang ở xứ này có vóc dáng lớn nhất Việt Nam, được thả vào rừng để tự sinh, tự dưỡng như thú hoang. Trâu đực không dùng để kéo cày mà dành riêng cho việc tế thần. Theo họ thì mỗi con trâu đều có nét mặt, màu lông, dáng sừng và tâm tính riêng, giống như con người vậy.
Trong đời sống của người Cơ Tu, con trâu là hình ảnh thiêng liêng nối kết ước vọng của con người với thế giới thần linh. Con trâu được người Cơ Tu xem như của cải quý giá mà nhà gái thách cưới trong lễ hỏi, cưới, tương tự như đồ sính lễ nhà trai tặng cho nhà gái gồm mã não, chiêng, ché. Người dân cũng thường trao đổi, mua bán cái này với cái kia với đơn vị giá là trâu: 1 trâu, 2 trâu.

Theo phong tục cổ truyền địa phương, dù là của người kinh hay người thượng đều có những tạp tục liên quan đến loài trâu.
Nguồn gốc hội chọi trâu còn được sách Đồng Khánh Dư ghi lại qua lời tương truyền rằng ngày xưa có người dân trong xã đi qua Đền Hùng Trấn Tước Điểm Thần thấy hai con trâu húc nhau, thấy động chúng bỏ chạy xuống biển. Sau này dân xã Đồ Sơn mở hội chọi trâu vào ngày mùng 9 tháng 8 âm lịch như truyền thống hàng năm và tin rằng trong ngày hội thế nào cũng có trận mưa to gió lớn. Đền Hùng Trấn Tước Điểm Thần thờ vị thủy thần Đồ Sơn trên Núi Tháp thuộc huyện Nghi Dương. Đó là vị thủy thần Đồ Sơn rất hiển linh. Trong ngày lễ chọi trâu, khi trâu giao đấu thì những thanh niên của Đồ Sơn chia thành hai hàng trình diễn những màn múa cờ nhiều màu sắc. Một tích khác truyền lại là dân biển Đồ Sơn sống bằng nghề chài lưới, vì có người trong xã nằm mơ thấy Thần Thuyền hiển linh báo mộng nên xây dựng ngôi đền để thờ thủy thần trên núi Tháp ngó ra biển. Qua giấc mộng, ngày hôm sau người đó lên núi nhìn thấy một đàn chim sẻ bay lượn trên nền trời xong bay ra hướng biển. Từ đó dân chúng tại Đồ Sơn mới dựng đền trên núi cao.
Trong khi trên vùng cao nguyên có lễ hội đâm trâu tế thần theo phong tục cổ truyền của những dân tộc miền cao nguyên, đặc biệt là ở 2 vùng Kon Tum hay Gia Lai. Tục nầy ngày nay bị thế giới lên án. Tục đâm trâu tượng trưng cho sự thử thách đọ sức của con người với thiên nhiên. Những buổi lễ này được dân làng cử hành thường vào mùa thu hoạch cuối năm, là cơ hội để các trai và gái làng biểu diễn tài năng của mình. Nam thì múa khiên, múa giáo, hay phóng lao. Trong khi nữ thì múa hát (xoang) cổ động cho buổi lễ đâm trâu. Còn người già đảm trách nhiệm vụ cúng tế và đặc biệt là đánh ching (tức chiêng bằng không có núm).
Con trâu tế thần (gọi là Kapô) được cột dưới cột Gưng. Nó có thể chạy quanh cột Gưng thành vòng tròn. Sau lời tế lễ, vị trưởng lão làng ra lệnh bắt đầu hành lễ, các chàng trai khoẻ mạnh như những dũng sĩ đóng khố Ktel (khố hoa) múa khiên, múa lao. Tiếng chiêng đuổi trâu chạy chàng dũng sĩ liền bám theo con trâu phóng những mũi lao ác nghiệt vào con vật hy sinh cho buổi lễ. Theo nhịp chiêng nhún nhảy, các cô gái nắm tay nhau xoang (múa) vòng quanh. Họ múa hát vui mừng cho tới khi con trâu bị lao đâm gục ngã quỵ và lời cúng tế dâng lên các thần linh của vị trưởng lão làng chấm dứt rồi thì lễ được kết thúc.
Trong tín ngưỡng nông nghiệp, hình ảnh con trâu thể hiện trên nhiều lĩnh vực. Chiếc sừng trâu gợi lên hình ảnh trăng lưỡi liềm biểu tượng của nước. Lúc đón giao thừa, người ta ra xem trâu nằm hay trâu đứng, trâu ngoảnh đầu ra cửa hay vào trong để biết năm đó làm ăn có thuận lợi hay không. Con trâu xuất hiện trong lễ hội dân gian với vai trò là vật tế lễ linh thiêng phản ánh tín ngưỡng của nông dân. Ở Bắc Giang từ xa xưa đã có tục tế trâu, thờ trâu trong các lễ hội truyền thống. Hội làng Phú Khê (Tân Yên) có lệ tế thần thành hoàng bằng trâu sống. Việc thờ trâu trong lễ hội dân gian ở Bắc Giang còn nói lên vị trí vai trò quan trọng của con trâu trong nền văn hóa cổ truyền của người dân Bắc Giang.
Một số vùng nông thôn Việt Nam ở các vùng Hoằng Hóa, Nga Sơn (Thanh Hóa), Vĩnh Linh (Quảng Trị), có tục lệ Tết Trâu.

Trâu là một loài động vật thuộc họ Trâu bò (Bovidae). Chúng sống hoang dã ở Nam Á (Pakistan, Ấn Độ, Bangladesh, Nepal, Bhutan), Đông Nam Á, miền bắc Úc. Trâu thuần dưỡng, tức trâu nhà được nuôi, phổ biến nhất ở vùng nhiệt đới châu Á. Một số nhỏ có mặt ở Nam Mỹ và Bắc Phi Châu. Trâu trưởng thành nặng khoảng từ 250 đến 500 kg. Loài trâu rừng hoang dã lớn hơn thế rất nhiều; con cái có thể nặng 800 kg, con đực lên tới 1,2 tấn, và cao tới khoảng 1,8 m. Trâu rừng châu Á có cặp sừng dài nhất trong số các loài thú có sừng trên thế giới.
Trên thế giới có hai nhóm trâu: trâu rừng Châu Phi (Cape buffalo) và trâu Châu Á, tức trâu nước. Đây là hai loài riêng biệt thuộc họ Syncerus (trâu Phi Châu) và Bubalus (trâu châu Á). Châu Á là bản địa của loài trâu với 95% tổng số trâu trên thế giới. Khoảng phân nửa số này sống ở Ấn Độ. Tính đến năm 1992 Á châu có 141 triệu con trâu. Trâu được nuôi lấy sức cày ruộng, lấy thịt và sữa, ngoài ra da trâu còn được sử dụng để làm trống và sừng trâu dùng làm tù và.
Người Trung Hoa gọi trâu là thủy ngưu. Người Anh cũng gọi như thế với danh từ water buffalo hay water ox, cũng còn gọi là Indian buffalo vì Ấn Độ là một trong những vùng xuất phát của loài động vật ăn cỏ và nhai lại này. Ở Việt Nam người ta phân biệt trâu qua màu sắc. Do đó ta có trâu đen và trâu cò hay trâu trắng.
Trâu lên ba tuổi thì bắt cặp. Thời kỳ mang thai kéo dài từ 300 đến 340 ngày. Trâu thường đẻ một con. Trâu con mới sinh cân nặng từ 30 – 35 ký lô. Tuổi thọ trung bình của trâu là 25 năm.
Năm 2007, các nhà khoa học Phi Luật Tân cho biết đã thành công ghép (clone) được giống trâu vô tính đầu tiên. Đầu năm 2008, họ lại bắt đầu lại tạo một giống trâu siêu chủng cho rất nhiều sữa, đặt tên là Glory, đặt theo tên của bà tổng thống Gloria Maccapagal Arroyo.
Tại Ấn Độ có giống trâu Murrah có sừng xoắn khác với trâu thường có sừng vòng cung. Ấn Độ cũng đã lai tạo được một giống trâu siêu chủng đặt tên là Nili-Ravi.

Tại Trung Quốc, kỹ nghệ chăn nuôi nông phẩm đã biến trâu cày thành trâu sữa, vì sữa trâu có giá trị dinh dưỡng rất cao. Các nhà chăn nuôi nỗ lực nghiên cứu hầu tạo đàn trâu cày khoảng 20 triệu con dư ra sau khi nước này cơ giới hóa nông nghiệp, trâu cày giờ đây được biến thành trâu sữa. Phương pháp này được thực hiện bằng cách cấy bào thai trâu sữa có phẩm chất tốt vào bụng trâu cày cái.
Trong quá khứ, trâu Murrah Ấn Độ và trâu Niri-Raphi của Pakistan là những giống trâu sữa tốt nhất thế giới. Mỗi năm một con Murrah có thể cho đến 3000 lít sữa. Ấn độ sản xuất 30 triệu tấn sữa trâu hàng năm. Phần còn lại của thế giới chỉ bằng một nửa số lượng ấy. Ấn Độ đã dùng sữa trâu từ ngàn xưa. Tại vùng bắc Ấn là nơi có rất nhiều trâu sinh sống. Theo ngành dinh dưỡng học, sữa trâu rất bổ dưỡng, rất thích hợp với người suy dinh dưỡng vì trong sữa trâu giàu chất béo, giàu calcium, năng lượng cao gấp đôi sữa bò. Sữa trâu có lượng mỡ béo cao nhất trong các loại sữa gia súc. Trong 100 mg sữa trâu có 110 kcalo, trong khi cũng cùng 100 mg sữa bò chỉ có 66 kcalo. Ngoài ra, sữa trâu thích hợp để chế biến thành bơ, fromage hoặc yaourt. Sữa trâu nhiều chất béo hơn sữa bò nhưng thịt trâu lại ít mỡ hơn thịt bò, lượng sắt có trong thịt trâu lại cao hơn thịt bò. Trong thịt trâu chỉ có 1,5 - 5,6% mỡ so với thịt bò là 10 - 20%.
Trong các sóc của người Thượng trên cao nguyên Trung bộ người ta thường hạ trâu làm thịt để ăn trong những ngày trọng đại. Thịt trâu cũng ngon như thịt bò. Ngày nay người ta dùng sữa trâu và thịt trâu để làm lạp xưởng. Sừng trâu dùng làm tù và thổi gọi công cấy ở thôn quê. Các tiệm thuốc dùng sừng trâu thay thế cho sừng tê giác mài cho trẻ em uống. Da trâu dùng để bịt trống. Sạn trong mật trâu gọi là ngưu hoàng dùng để làm thuốc. Trâu còn được dùng là thực phẩm hàng ngày phục vụ nhu cầu ẩm thực của mọi người. Người Âu Mỹ không dùng trâu trong việc canh tác. Họ không nuôi trâu và cũng không ăn thịt trâu mà chỉ ăn thịt bò.

Thời kỳ Vua Hùng dựng nước, tượng Trâu bằng đất nung được giới khảo cổ học tìm thấy trong di chỉ Đồng Đậu cách đây hơn ba ngàn năm. Trên mặt trống đồng Bắc Lý (Hiệp Hòa) còn chạm khắc hình ảnh hội đâm trâu của người Việt cổ, ở buổi đầu dựng nước có nhiều tượng trâu ở di chỉ Đình Chàng.
Thời Lý - Trần, với chính sách trọng nông, khuyến nông, triều đình rất quan tâm tới việc bảo vệ nguồn sức kéo. Năm 1123, vua Lý Nhân Tông xuống chiếu nhắc nhở: Trâu là con vật quan trọng cho việc cày cấy, lợi cho người. Từ nay cấm không được giết trâu ăn thịt. Ai làm trái thì trị tội theo pháp luật. Luật Hình thời Lý, Hình luật thời Trần, đều có những điều khoản cụ thể quy định hình phạt về tội ăn trộm và giết hại trâu bò. Vào đầu xuân, theo lệ, vua thân chinh làm lễ tế Thần nông và cày ruộng Tịch điền, trâu cày ruộng tịch điền phải là trâu đực.
Nhiều đình chùa đã chạm khắc và tạc tượng trâu, đó là tượng trâu bằng đá ở chùa Kim Ngưu (Bắc Ninh). Thời nhà Lý, chùa Phật Tích (Bắc Ninh) được xây dựng năm 1057 có cặp tượng trâu to bằng trâu thật, tạc trên đài sen ở sân chùa khá sống động.
Thời Lê Trung Hưng trâu trở thành hình chạm trang trí khá phổ biến. Chùa Bút Tháp ở Bắc Ninh dựng năm 1647, tại lan can đá ở thượng điện và tháp Bảo Nghiêm đều có hình trâu chạm nổi. Ở tấm bia đá chùa Cảnh Phúc (Nam Định) dựng năm 1695 cũng có hình chạm con trâu đang nằm nghỉ.
Trâu còn hiện diện trong tranh dân gian và trong điêu khắc gỗ đình làng thế kỷ 17, 18… Di tích kiến trúc nghệ thuật được xếp hạng cấp tỉnh, đình Khả Lý Hạ (Việt Yên) còn chạm khắc hình trâu trên cấu kiện gỗ. Bức chạm trâu kéo cày ở nghè Mẫu Sơn (Lục Nam) cũng là một tác phẩm nghệ thuật điêu khắc dân gian đẹp vào thế kỷ này.

Trong âm nhạc Việt Nam, có nhiều ca khùc về trâu. Ca khúc "Em bé quê" của Phạm Duy, có mấy câu đầu nổi tiếng: "Ai bảo chăn trâu là khổ, chăn trâu sướng lắm chứ..." Phạm Duy thường dùng hình ảnh con trâu và em bé mục đồng đậm nét quê hương trong các tác phẩm của ông.
Ca khúc "Lý con trâu" của Lư Nhất Vũ, phỏng theo dân ca Nam Bộ: "Ngồi dưới áng mây trời bay ngang / Còn con trâu nghé thì lang thang..."
Bài hát "Con Đường Việt Nam", tác phẩm chung của hai nhạc sĩ Anh Bằng và Trúc Hồ nói về khung cảnh miền quê Việt Nam có bóng dáng con trâu gặm cỏ đường chiều, một vài em bé vui chơi thả diều.

Trong nghệ thuật hội họa, điêu khắc, trâu là một hình ảnh đẹp nên thơ của thiên nhiên, được nhiều họa sĩ Trung hoa và Việt nam chọn làm đối tượng, nhờ dáng dấp hiền lành giản dị mà tiềm tàng sức mạnh, thêm trẻ mục đồng ngồi trên lưng trâu thổi tiêu nói lên cái vẻ tiêu dao thoát tục của người xa lánh danh lợi vật chất tầm thường.
Tranh Đông Hồ còn ghi nhận hình ảnh con trâu đi sát với sinh hoạt làng quê, có những chú bé mục đồng để tóc chỏm thổi tiêu trên lưng trâu giữa những cánh đồng lúa chín vàng, hay bên những lũy tre xanh có những con trâu được nghỉ ngơi nhai cỏ sau những giờ làm lụng vất vả.
Trong các tranh trâu, hình ảnh con trâu sống động hơn, gần gũi hơn, từ những nét in khắc dung dị đến nét vẽ hiện thực, tượng trưng và bán trừu tượng, được thể hiện với nhiều chất liệu từ tranh lụa, tranh sơn mài và nhiều nhất là sơn dầu. Hình ảnh con trâu sau đó cũng đi vào hội họa Việt Nam với các tác phẩm trâu của nhiều họa sĩ như Nguyễn Sáng với bức "Chọi trâu", Nguyễn Tư Nghiêm với tranh "Con nghé", Bùi Xuân Phái cũng có bóng dáng của con trâu trong tranh.

Nhiều nhà văn đã sáng tác các câu chuyện về trâu.
“Lục súc tranh công” là một truyện Nôm khuyết danh dài 453 câu văn vần ra đời vào khoảng thế kỷ 17-18 kể về sự suy bì tị nạnh lẫn nhau, kể công với chủ của 6 con gia súc là: trâu, chó, ngựa, dê, gà, lợn. Nghe xong, người chủ khéo léo vỗ về, dàn xếp để chúng thôi tranh cãi và tiếp tục phục vụ mình. “Trâu mỏi nhọc, trâu liền năn nỉ / Một mình trâu ghe nỗi gian nan / Lóng canh gà vừa mới gáy tan / Chủ đã gọi thằng chăn vội vã / Trâu mệt đà thở dài thở vắn / Chủ còn hầm hét, mắng ngược mắng xuôi..."
Truyện “Con trâu” của nhà văn Trần Tiêu (Tự Lực Văn Đoàn) ra đời đầu thập niên 40 nói lên nỗi ước mơ giản dị nhưng khó hiện thực của một nông dân đồng bằng Bắc bộ mong được làm chủ một con trâu cày.
Trong tác phẩm "Mùa Len Trâu" - tập truyện nổi tiếng Hương Rừng Cà Mau của nhà văn Sơn Nam, kể về cuộc sống của những người nông dân miền Nam vào đầu thế kỷ 20. Hằng năm khi mùa mưa về, nước tràn ngập mọi nơi, có những người làm nghề "len trâu" hay giữ trâu, đưa trâu đi tìm cỏ để sống qua mùa nước lũ. Ở đây nước lụt từ 1m đến 4m. Người không có chỗ ở nên phải dời chỗ, và trâu cũng không có chỗ ở cho nên phải lùa nó đến những vùng đất cao để có cỏ cho nó ăn. Muốn nuôi trâu thì phải lùa trâu đi. Đưa trâu đến vùng Bảy Núi. Trâu dẫn đi phải có người giữ. Trâu không dẫn đi thì phải mướn người ta giữ. Người nghèo thì để con cái đi giữ nó.
"Mùa Len Trâu" được đạo diễn Nguyễn Võ Nghiêm Minh từ Mỹ về Việt Nam thực hiện thành phim vào năm 2003. "Mùa Len Trâu" cho thấy nét văn hóa đặc thù nông nghiệp của Việt Nam, nó rất gần gủi với chúng ta. Phim được trình chiếu tại Mỹ mang tên "Buffalo Boy" và tại Pháp mang tên "Gardien de Buffles".

Tình yêu quê hương đất nước, trong đó có hình tượng con trâu đã thấm đậm vào thi ca. Những tâm hồn đa cảm đa tình, từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, nhà thơ đã sáng tác những câu thơ giàu nhạc điệu.
Trần Mạnh Hão đã diễn tả những tình cảm ấy bằng cả trái tim của mình:
"Đêm mơ cưỡi trâu về tuổi nhỏ,
Con đường làng mê mẩn cỏ đời tôi.
Nghe nghé gọi vạt sương chiều nghé ọ,
Tuổi thiếu niên theo chú Cuội lên trời.
Mặt trăng ấy có còn trâu gặm cỏ,
Mục đồng mây nghe sáo gió thay mùa.
Ai mơ phất cờ lau thành lịch sử,
Cưỡi trâu về con trẻ hóa thành vua."
(Cỡi trâu về niên thiếu)


Huy Cận khi nhìn lên những áng mây bay, những luống cày, chợt nhớ đến đàn trâu:
"Trời nóng đêm qua mây dậy ran,
Ngỡ đàn trâu bạc phá tung ràn,
Giữa ngày ruộng vỡ mênh mông gió,
Những luống cày xô nắng chói chang."
(Mây Trắng)


Kim Long thổn thức kể lể:
"Ta thì phận gái thuyền quyên,
Mười hai bến nước nương thuyền vào đâu.
Thương mẹ chưa dám qua cầu,
Nên ta đành phải chăn trâu kiếm tiền."
(Chăn trâu)


Tạ Hồng Thái ngất ngưỡng trên lưng trâu tưởng tượng mình là tướng ra trận:
"Nhớ lại thủa xưa cưỡi lưng trâu,
Lá đa kết mũ đội đỉnh đầu.
Một ngọn roi tre tay múa mác,
Lau nhau lũ bạn chạy theo hầu.
Mơ như Nguyễn Huệ san Tốt Động,
Tưởng Đinh Bộ Lĩnh phất cờ lau.
Lớn ngự chiến xa Nam tiến gấp,
Hợp quân Đại thắng rợp sắc mầu!"
(Cưỡi trâu)


Sông Trà kết nối yêu thương qua hình ảnh con trâu:
"Rồi một hôm quay về tìm sở đắc,
trâu còn đây, người chăn dắt nơi mô,
nhìn vào gương hắn thấy một chữ vô,
che trùm khắp lộ đồ vay với trả."
(Trâu đây người đâu)


Trong Cổ Học Tinh Hoa, có chuyện "Rửa tai" nói về đối đáp giữa Hứa Do và Sào Phủ là hai danh nhân Trung Hoa ngày xưa, có tài mà khinh chê danh lợi, lui về quê làm ruộng, chăn trâu, an bần lạc đạo. Một anh đứng ở trên dòng nước rửa tai vì không muốn để tai dính những tiếng danh lợi dơ bẩn nhà Vua vừa hứa cho, nếu chịu ra làm quan, một anh đang cho trâu uống nước ở dưới dòng, phải dẫn trâu đi lên trên dòng thật xa vì sợ nước rửa tai của bạn trôi xuống làm bẩn miệng trâu mình.
Có câu chuyện Trạng Quỳnh cho đấu trâu với Tàu. Sứ Tàu thả trâu họ ra, con trâu to lớn cổ quái, hai mắt long sòng sọc, đứng nghênh ngang sừng sững khiêu khích. Lúc ấy Trạng Quỳnh mới thả một con nghé con ra. Chú ta bị nhốt riêng suốt đêm, khát sữa quá, thấy trâu Tàu tưởng trâu mẹ, liền húc đầu vào bụng trâu Tàu để tìm vú. Trâu Tàu là trâu đực nhột lên như bị cù, lùi mấy vòng, cuối cùng không chịu được nữa liền bỏ chạy thục mạng. Chú nghé của Quỳnh cũng cong đuôi đuổi theo. Thật là một cuộc rượt đuổi không cân sức; phần thua thuộc về trâu Tàu to xác.
Trong sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư lớp ba dưới thời Pháp thuộc có bài nói về con trâu, con cọp và trí khôn của loài người. Theo bài tập đọc này con cọp ngạc nhiên khi thấy một nông dân ốm yếu cầm roi đánh đập con trâu liên hồi trong lúc cày ruộng. Con cọp muốn biết tại sao con trâu to lớn và nặng gấp mười lần anh nông dân lại chấp nhận cho anh ta đánh dập mà không có một phản ứng chống cự nào cả. Con trâu buồn rầu đáp: “Vì nó có trí khôn”.
Văn chương bình dân hay nhắc chuyện Chú Cuội. Tương truyền, một lần đi ăn, Cuội bắt được một chú hổ con mới lọt lòng mẹ, lỡ tay đánh chết. Vừa lúc hổ mẹ về lồng lộn tìm kẻ địch để trả thù nhưng Cuội đã kịp nấp kín. Hổ mẹ liền chạy đến một cây đa rừng, nhảy lên với mấy túm lá xuống, nhai nát rồi mớm cho con. Một lát sau, hổ con tỉnh lại, rồi hổ mẹ líu ríu chuyển con đi nơi khác. Biết được tác dụng của cây đa thần, Cuội bèn bứng về trồng trong vườn và dùng lá cây chữa bệnh, cứu được nhiều người. Khi đi vắng, Cuội thường dặn vợ: “Có đái thì đái bên Tây, chớ đái bên Đông, cây dông lên trời”. Dặn nhiều lần quá, vợ Cuội tự ái bèn liều lĩnh tiểu tiện vào hướng Đông của cây đa. Bỗng cây đa chuyển động, rùng rùng bay lên trời. Vừa chạy về đến nơi, Cuội chỉ còn kịp nắm lấy bộ rễ đa và bị kéo tuốt lên tận mặt trăng, không còn đường về. Từ đấy Cuội thường ngồi ở gốc đa trên mặt trăng, mặc kệ cho trâu ăn lúa.
Theo huyền sử ngày xưa Đinh Bộ Lĩnh thuở để tóc ba chỏm chăn trâu cho chú đã cùng đám trẻ chăn trâu trong vùng Hoa Lư bày trận Cờ lau chia phe đánh nhau, rồi làm thịt trâu của chú chiêu đãi "quân sĩ" bạn bè.
Hồ Tây nằm ở Tây Bắc Thủ đô Hà Nội, rộng khoảng 500 ha với chu vi tới 17km, nguyên là một đoạn Sông Hồng bị tách ra sau khi sông đổi dòng. Nhưng theo truyền thuyết dân gian thì Hồ Tây do Con Trâu Vàng quẫy đạp mà thành hồ. Sau đó Trâu Vàng biến mất nhưng tên của nó còn lưu lại với địa danh: Sông Kim Ngưu.
Truyền thuyết có nguồn gốc Trung Hoa kể rằng một người con gái của Ngọc Hoàng Thượng Đế đã trái lệnh cha mà lấy anh chàng chăn trâu cho Nhà Trời (Ngưu Lang). Ngọc Hoàng cả giận, bèn bắt con gái mình đi dệt vải (Chức Nữ) trong chốn cấm cung. Hàng năm, hai vợ chồng chỉ được gặp nhau một lần vào đêm Thất tịch (mồng 7 tháng 7 Âm lịch). Thương tình, những đàn quạ đã chắp cánh thành cây cầu qua sông Ngân Hà để vợ chồng họ gặp nhau (Cầu Ô Thước). Khi gần nhau, họ thường than khóc cho thân phận éo le của mình, nước mắt họ rơi xuống trần gian tạo thành những cơn mưa dầm dề vào mùa thu mà người Việt ta quen gọi là “mưa Ngâu”, nói chệch từ chữ “ngưu” mà ra. Thực ra truyền thuyết này dựa trên sự quan sát thiên văn của người Trung Hoa xưa. Ngưu Lang là ngôi sao lớn Altair trong chòm sao Thiên Ưng (Eagle), còn Chức Nữ là ngôi sao lớn Vega trong chòm sao Thiên Cầm (Lyre). Hai ngôi sao này đối nhau qua giải Ngân Hà.

Trong dân gian có rất nhiều tục ngữ nói về trâu:
- Da trâu chắc chắn làm trống đánh rất kêu, đóng giày mang rất bền vì thế có câu "Trâu chết để da, người ta chết để tiếng"
. - Thành ngữ "đầu trâu mặt ngựa" dùng để diễn tả những phường bất lương côn đồ, thảo khấu, sống bằng nghề đâm thuê chém mướn.
- "Trâu chậm uống nước đục", thật không có gì hay bằng, vừa gợi hình, vừa gợi ý, vừa nghĩa bóng, vừa nghĩa đen, ai nghe qua cũng hiểu liền.
- "Trâu già gặm cỏ non", có lẽ do dân miền Nam chế ra, ám chỉ mấy ông già răng rụng mà còn ham gái tơ, ai nghe cũng không khỏi nín cười.
- "Đờn khảy tai trâu" ám chỉ cho kẻ ngu si dốt nát, không biết thưởng thức nghệ thuật, văn thơ, âm nhạc, mới nghe qua như tiếng mỉa mai độc ác, nhưng nghĩ lại thật vô cùng chí lý.
- Người Việt vẫn thường nói: "Con trâu là đầu sự nghiệp" hay "Trật con toán bán con trâu" như để nói lên giá trị to lớn của con trâu trong xã hội nông nghiệp.
- Tiền nhân chúng ta nhận xét rằng: "Muốn làm giàu thì nuôi trâu cái / Muốn phá sản thì nuôi bồ câu".
- Nông dân mua trâu thường để ý đến màu sắc và tướng mạo của trâu. Họ không thích trâu cò (trâu trắng) vì "Trâu trắng đến đâu thất mùa đến đó".
- "Có chửa trâu" là cụm từ chỉ những người phụ nữ mang thai quá chín tháng mười ngày (280 ngày) nhưng vẫn chưa sanh. Thông thường trâu cái mang thai từ 300 đến 340 ngày mới sinh con.
- "Trâu bò húc nhau ruồi muỗi chết" cho thấy sự liên lụy và thiệt hại của kẻ nhỏ khi hai kẻ mạnh và to lớn đánh nhau.
- "Trâu cột ghét trâu ăn", đó là sự đấu tranh, ganh ghét giữa người được hưởng và người không được hưởng. "Trâu cột thì ghét trâu ăn / Quan võ thì ghét quan văn dài quần".
- "Trâu chết mặc trâu, bò chết mặc bò, củ tỏi giắt lưng" nói lên sự thủ lợi của người ích kỷ trước cái chết của người khác.
- "Trâu tìm cột chớ cột không tìm trâu", người cần sự giúp đỡ của người khác phải đi tìm người giúp đỡ chớ đừng ngồi chờ người giúp đỡ đi tìm mình.
- "Trâu đồng nào ăn cỏ đồng nấy", quyền lợi của ai người ấy hưởng.
- "Trâu già không nệ dao phay" nói về người già không sợ chết.
- "Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã", trâu tìm trâu, ngựa tìm ngựa. Đó là đồng loại tập hợp. Người Pháp và Anh có câu: "Qui se ressemble s'assemble", "Birds of a feather flock together".
- Những thiếu nữ khôn ngoan và đẹp đẽ lại có chồng khờ dại bị người đời biếm nhẽ bằng câu: "Đứa gái khôn lấy thằng chồng dại / Như cái hoa lài cặm bãi cứt trâu".

Trong kho tàng ca dao có những bài thơ rất đẹp ca tụng công lao của trâu và tình cảm ơn sâu nghĩa nặng giữa người với trâu. Trâu là người bạn kề vai sát cánh trong cuộc mưu sinh hàng ngày của nhà nông, cày bừa, dậm lúa, chở hàng, kéo nặng...
"Trâu ơi ta bảo trâu này,
Trâu ra ngoài ruông trâu cày với ta.
Cấy cày vốn nghiệp nông gia,
Ta đâu trâu đấy ai mà quản công.
Một mai cây lúa lên bông,
Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn."


Người chăn trâu tâm tình, khuyên bảo trâu ân cần về việc ăn uống, làm lụng, cả về những vấn đề triết lý nhân sinh:
"Trâu ơi ta bảo trâu này,
Trâu ăn cho béo trâu cày cho sâu.
Ở đời khôn khéo chi đâu,
Chẳng qua cũng chỉ hơn nhau chữ cần."


Trâu là con vật đóng vai trò hàng đầu của nhà nông. Tuy nhiên, việc “tậu trâu” là việc hệ trọng tương đương “lấy vợ, làm nhà” và chọn trâu tốt không phải là công việc dễ dàng:
"Tậu trâu, lấy vợ, làm nhà,
Trong ba việc ấy thật là khó thay."


Con trâu với công việc cày bừa thường do người đàn ông đảm nhận. Vì vậy, biết điều khiển con trâu và cày sao cho giỏi là tiêu chuẩn để đánh giá người con trai trong công việc nhà nông:
"Trai thì cày ruộng khiển trâu,
Gái thì phải biết bổ cau têm trầu."


Tuy vất vả nhưng người nông dân luôn yêu đời, lạc quan tin tưởng vào tương lai tươi sáng. Cảnh trâu và người cùng đồng hành trong công việc nhà nông, trâu như một thành viên trong gia đình đầm ấm hạnh phúc:
"Rủ nhau đi cấy đi cày,
Bây giờ khó nhọc có ngày phong lưu.
Trên đồng cạn, dưới đồng sâu,
Chồng cày vợ cấy, con trâu đi bừa."


Theo cách phân chia thời gian, châu Á chịu ảnh hưởng văn hóa Trung hoa thời xưa, con Trâu cũng là một biểu tượng cho một năm. Trong 12 địa chi (thập nhị chi), trâu có tên là Sửu, đứng hàng thứ hai sau Tý và đứng trước 10 con vật khác, đồng thời là con vật đứng đầu lục súc (gồm trâu, chó, ngựa, dê, gà, lợn). Về tính âm dương, 12 con vật được chia xếp thành hai cực âm và dương đứng đan xen nhau, trong đó Sửu thuộc âm. Cung Kim Ngưu cũng là một cung hoàng đạo của phương Tây.
Người phương Đông đã tìm thấy và đặt tên cho bốn chòm sao, gồm 28 ngôi sao chính gọi là nhị thập bát tú, trong đó có sao Ngưu thuộc chòm sao Huyền Vũ nằm ở phương Bắc, ứng với hành thuỷ, thuộc về mùa Đông. Theo quan niệm của người phương Đông thì sao Ngưu, sao Đẩu là những ngôi sao sáng và thường được gắn cho những người có trí tuệ trác việt.
Trong bói toán hay trong dân gian, người sinh vào năm Sửu thì chịu khó làm việc cực nhọc, điềm đạm, kiên nhẫn, kiên định, có ý chí cao và đáng tin cậy. Đặc điểm chung của người tuổi Sửu là khỏe mạnh, không có bịnh nặng. Họ là những người thành công nhờ vào sự cần cù và chăm chỉ, sống thiên về lý trí hơn tình cảm, thường tự hào về bản thân mình và ít khi chịu thỏa hiệp. Người tuổi Sửu rất trung thực, thích giao du rộng rãi nhưng chỉ trong mối quan hệ đứng đắn và bền chặt, tuy nhiên có nhược điểm là khó tự diễn đạt những tình cảm sâu kín, thích sống cô đơn, trọng danh dự hơn là yêu một người không tương xứng với mình, đôi khi rất bướng bỉnh, khó gần và không có khả năng biểu hiện cảm xúc của mình.
Tuổi Sửu hợp với Tỵ, Dậu, Tí. Không hợp Thìn, Tuất, Mùi, Ngọ.
Trong nhân tướng học, người có tướng miệng trâu, hai môi dày mà nở, là tướng phú quý, trường thọ, khôn ngoan. Người có răng trâu, dài đều thẳng hàng, thì vinh hoa bổng lộc. Người có dáng đi đủng đỉnh như trâu là tướng giàu có nhàn nhã...
Những ai sinh tuổi Sửu, tuổi Ngọ, thường than số mình vất vã như trâu, ngựa, số phải làm hoài chứ không được an nhàn, thảnh thơi, mặc dù có tiền. Thật ra không phải như vậy, nhiều người tuổi Quí sửu, Mậu ngọ, quyền cao chức trọng, nhà cao, cửa rộng, gia nhân kẻ hầu người hạ trong ngoài. Cũng vậy, những ai sinh năm Hợi không nhất thiết đều là "ở không nằm duỗi cũng no", cũng có nhiều người lận đận, mất nhà mất việc, tay làm hàm nhai qua ngày.
Trong văn hóa phương Tây, loài Trâu tượng trưng cho sức mạnh và tài lộc. Người ta coi những chiếc tù và làm từ sừng trâu là biểu tượng cho ngành bưu chính cổ đại. Họ thổi những chiếc tù và để thông báo mỗi khi giao hay nhận thư từ các buôn lái. Cặp sừng dài to, chắc khỏe của loài trâu xuất hiện nhiều trong thần thoại Hy Lạp hay Ai Cập, biểu tượng cho các vị thần bảo trợ với sự mạnh mẽ, sức mạnh khiến bao người phải sợ hãi.

Các nhà lãnh đạo nổi tiếng trên thế giới sinh vào năm Sửu là:
Cựu hoàng Bảo Đại (1913 - 1997); Richard Nixon (1913 - 1994) - Tổng Thống Mỹ; Gerald Ford (1913 - 2006) - Tổng Thống Mỹ; Antonio Salazaar (1889 -1970) - nhà độc tài Bồ Đào Nha; Fulgencio Batista (1901 - 1959) - nhà độc tài xứ Cuba; Benjamin Netanyahu (1949 - ) - thủ tướng Do Thái; Menachem Begin (1913 - 1992) - thủ tướng Do Thái; Willy Brandt (1913 -1992) - thủ tướng Tây Đức; Stafford Cripps (1889 - 1952) - chánh trị gia đảng Lao Động Anh; Erich Ludendorff (1865 - 1937) - thống chế Đức; Margaret Thatcher (1925 - ) - thủ tướng Anh; Warren Harding (1865 - 1923) -Tổng Thống Mỹ...

Các danh nhân tuổi Tân Sửu trong lịch sử:
- Phùng Hưng (sinh năm Tân Sửu 761) quê ở làng Đường Lâm nay thuộc huyện Ba Vì, Hà Nội .Ông vốn là con nhà hào phú có sức vật trâu, đánh hổ. Chuyện kể rằng ông từng đánh chết một con hổ, có thể quặp 2 con trâu mộng và vẫn chạy như thường, trở thành người anh hùng trừ họa cho làng Đường Lâm. Ông chính là người đã phát động phong trào khởi nghĩa đập tan quân xâm lược nhà Đường xây dựng nền độc lập tự chủ. Ông mất vào năm 802 thọ 41 tuổi.
- Lê Đại Hành (sinh ngày 15/07 năm Tân Sửu tức 10/08/941 âm lịch), là vị Hoàng đế sáng lập nhà Tiền Lê nước Đại Cồ Việt, trị vì nước Đại Cồ Việt trong 24 năm. Lê Đại Hành là ông vua có tài, dẹp nội loạn, khéo bang giao, giữ thể diện Quốc gia.
- Trần Quang Khải sinh tháng 10 âm lịch năm 1241 năm Tân Sửu – 26 tháng 7 dương lịch năm 1294 hay Chiêu Minh Đại vương, là một nhà chính trị, quân sự, tôn thất hoàng gia Đại Việt thời Trần. Ông là con trai thứ ba của vua Trần Thái Tông làm đến chức Thừa tướng đời Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông và Trần Anh Tông, coi cả mọi việc trong nước. Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ hai (1285) và thứ ba (1288), Trần Quang Khải là vị tướng chủ chốt thứ hai sau Trần Quốc Tuấn có nhiều công lao lớn trên chiến trường. Ông còn là một nhà thơ nổi tiếng với bài thơ "tụng giá hoàn kinh sư" được viết sau trận thằng Chương Dương Độ vào tháng 6/1285.
- Nguyễn Thái Học sinh năm Tân Sửu 1901 quê ở Vĩnh Phúc. Ông nổi tiếng là người trung kiên giàu lòng thương dân ái quốc. Ông là một trong những anh hùng dân tộc trong lịch sử cận đại là một trong những người khai sinh ra Việt Nam Quốc Dân Đảng. Người đề cao thể chế tự do dân chủ năm 1927. Ông là tấm gương sáng cho những tấm lòng yêu nước, là nền móng cho sự phát triển tinh thần khởi nghĩa dân tộc.

Những năm Sữu đáng ghi nhớ:
- Năm Ất Sửu (905): Khúc Thừa Dụ lãnh đạo nhân dân nổi dậy khởi nghĩa chống nhà Đường, chiếm thành Tống Bình, xưng là Tiết Độ Sứ, xây dựng chính quyền tự chủ, kết thúc ách thống trị hơn 1.000 năm của Trung Quốc. - Năm Ất Sửu (965): Khởi đầu loạn thập nhị sứ quân nhờ Đinh Bộ Lĩnh, nạn phân tranh được hợp nhất. Năm 966, người anh hùng đất Hoa Lư lên ngôi Hoàng đế, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt.
- Năm Kỷ Sửu (1049): Nhà Lý cho xây dựng chùa Diên Hựu (tức chùa Một Cột) một công trình kiến trúc độc đáo, biểu trưng nền nghệ thuật nước nhà và tinh thần sùng đạo Phật.
- Năm Đinh Sửu (1907): Vua Lý Nhân Tông cho biên soạn, bổ sung, cải cách các phép tắc và định chế chính trị, pháp quyền cũ làm thành một quyền mới, tạo nên những tiến bộ lớn trong phương thức tổ chức nhà nước và điều hành mọi quan hệ chính trị.
- Năm Kỷ Sửu (1289): Trần Quốc Tuấn được vua Trần Nhân Tông (1279-1293) phong Hưng Đạo Đại Vương lãnh ấn tiên phong dẹp giặc Nguyên.
- Năm Đinh Sửu (1397): Hồ Quý Ly ban hành chính sách hạn điền để điều chỉnh, phân phối ruộng đất giữa các tầng lớp xã hội, hạn chế đặc quyền, đặc lợi của giới thượng lưu. Đồng thời năm này, thủ đô nước ta được chuyển từ Thăng Long vào Thanh Hóa, gọi Tây Đô.
- Năm Kỷ Sửu (1469): Nhà Lê cho vẽ bản đồ quốc gia với từng khu vực cụ thể, đánh dấu bước tiến quan trọng trong lĩnh vực hiểu biết, xác định quy hoạch và quản lý lãnh thổ. Lê Thánh Tông (1460-1497) quy định bản đồ cả nước. Đặt ra 12 khu: Thừa Thiên - Thuận Hóa - Nghệ An - Thanh Hóa - Sơn Nam - Hải Dương - Sơn Tây - Kinh Bắc - An Bang - Tuyên Quang - Hưng Hóa - Lạng Sơn - Ninh Sóc.
- Năm Tân Sửu (1481): Lê Thánh Tông cho mở đồn điền.
- Năm Kỷ Sửu (1529): Mạc Thái Tổ (Mạc Đăng Dung) truyền ngôi cho con là Mạc Thái Tông (Đăng Doanh) sau 2 năm làm vua, nhận chức vị Thái Thượng Hoàng.
- Năm Quý Sửu (1673): Sau 45 năm nội chiến và 7 cuộc chiến lớn gây đau khổ lầm than cho dân, Chúa Trịnh và Chúa Nguyễn tạm hòa hoãn lấy sông Gianh làm giới tuyến.
- Năm Đinh Sửu (1757): Mạc Thiên Tích con Mạc Cửu gốc người Hoa chống Mãn Thanh chạy qua nước ta đã được phong chức Tổng Trấn, giữ đất Hà Tiên. Sau ngày cha qua đời (1736), có công mở mang bờ cõi nước ta làm chủ thêm hai đạo Kiên Giang và Long Xuyên.
- Năm ẤT Sửu (1865): Tờ báo Quốc Ngữ Việt Nam đầu tiên (Gia Định báo) xuất bản số đầu tiên.

Chuột đi trâu lại về. Dân gian quan niệm "con trâu là đầu cơ nghiệp". Bên cạnh đó, hình ảnh chú trâu hiền lành, chăm chỉ còn thể hiện sự may mắn, đầy đủ, cuộc sống ấm no. Năm Tân Sửu xin được gửi gắm ước vọng một năm tràn đầy sung túc, sức khỏe, may mắn cho mọi nhà.

Lê Tấn Tài