DỊCH HẠCH
(La Peste)

Albert Camus

NGUYỄN TRỌNG ĐỊNH dịch


Kỳ 6

II


Bắt đầu từ lúc này, có thể nói dịch hạch đụng tới tất cả mọi người. Cho tới lúc đó, tuy những sự kiện kỳ lạ ấy khiến người ta ngạc nhiên và lo lắng, mỗi đồng bào chúng tôi vẫn theo đuổi công việc của mình một cách bình thường, tùy theo khả năng mỗi người. Và chắc hẳn vẫn tiếp tục như thế. Nhưng một khi cửa thành phố đã đóng lại thì họ nhận thấy mọi người, kể cả bản thân người kể chuyện ở đây, đều cùng chung một cảnh ngộ và cần phải biết lo liệu. Chính vì vậy ngay những tuần lễ đầu tiên, một tình cảm hết sức riêng tư như nỗi niềm xa cách một người thân yêu chẳng hạn, cũng bỗng nhiên trở thành tình cảm của cả một dân tộc và cùng với nỗi sợ hãi, trở thành nỗi đau chủ yếu trong thời gian lưu đày dài dặc này.
Một trong những hậu quả nổi bật nhất của việc đóng cửa thành phố quả là tình trạng những con người rơi vào cảnh ly biệt một cách đột ngột mà không được chuẩn bị. Những bà mẹ và những đứa con, những cặp vợ chồng, những người yêu, vài ngày trước đây, cứ nghĩ là một cuộc chia tay tạm thời: họ ôm hôn nhau trên sân ga với đôi ba lời dặn dò, đinh ninh sẽ gặp lại nhau vài ngày hay vài tuần sau, với lòng tin khờ khạo của con người, và buổi ra đi của người thân hầu như chỉ làm họ xao nhãng chút đỉnh công việc thường ngày; thế mà cuộc biệt ly bỗng nhiên trở thành không phương cứu chữa: họ không còn có thể gặp lại nhau hay thư từ cho nhau nữa. Vì thành phố bị đóng cửa mấy tiếng trước khi quyết định của tỉnh được công bố và dĩ nhiên không sao có thể chiếu cố những trường hợp cá biệt. Có thể nói tác động đầu tiên của sự xâm nhập tàn bạo này của dịch bệnh là đồng bào chúng tôi phải hành động như thể họ không có tình cảm riêng tư. Ngay sau khi quyết định đóng cửa thành phố bắt đầu có hiệu lực, trong mấy tiếng liền, người ta tấp nập đến cơ quan tỉnh để thỉnh cầu: hoặc qua điện thoại hoặc trực tiếp quan chức, họ giãi bày những hoàn cảnh cũng đáng chú ý như nhau, và đồng thời cũng không thể xem xét đƣợc như nhau. Sự thực, phải nhiều ngày mới có thể thấy chúng tôi ở trong một tình thế không thỏa hiệp, và những từ như “dàn xếp”, “ân huệ”, “ngoại lệ” đều trở thành vô nghĩa.
Ngay đến chút niềm vui viết thư cũng bị từ chối. Một mặt thành phố không còn mối liên hệ với phần còn lại của đất nước, bằng những phương tiện liên lạc thông thường, mặt khác một quyết định của nhà chức trách cấm trao đổi thư từ vì sợ thư từ mang theo vi trùng dịch bệnh. Lúc đầu, một vài ngƣời được ưu đãi đến gặp lính gác ở các cửa ngõ thành phố để nhờ chuyển thư tín ra ngoài. Đấy là những ngày đầu tiên xảy ra dịch bệnh, khi những người lính gác thấy không cưỡng lại lòng trắc ẩn là điều tự nhiên. Nhưng ít lâu sau, khi cũng chính những người lính gác ấy thấy rõ tình thế nghiêm trọng thì họ không còn dám gánh lấy phần trách nhiệm mà họ không thể lường trước được sẽ nặng nề tới đâu. Lúc đầu, người ta được dùng phương tiện liên lạc bằng điện thoại liên tỉnh. Nhưng thế là các trạm công cộng và đường dây ùn tắc tới mức phải đình chỉ hẳn trong mấy ngày, rồi về sau bị hạn chế gắt gao và chỉ dành cho các trường hợp khẩn cấp như sinh, tử, cưới xin. Chỉ còn lại một nguồn duy nhất là điện tín. Những con người gắn bó với nhau bằng tâm hồn, bằng con tim và máu thịt, chỉ còn cách đi tìm những dấu hiệu của mối đồng cảm sâu xa ấy trong những chữ viết hoa của một bức điện vẻn vẹn mười từ. Và vì trên thực tế, những công thức có thể sử dụng trong một bức điện chẳng mấy chốc mà hết nên những năm tháng cùng chung sống hoặc những nỗi lòng đau xót, chỉ nhanh chóng thâu tóm lại trong việc trao đổi định kỳ những công thức có sẵn như: “Mạnh khỏe. Nhớ thương. Thân mến.”
Nhưng một số ít người vẫn khăng khăng viết thư và để giao dịch với ngoài thành phố, họ nghĩ ra hết mưu chước này đến mưu chước khác tuy cuối cùng bao giờ cũng chỉ là ảo tưởng. Và dù cho một vài phương sách tưởng tượng ra có thành công chăng nữa, chúng tôi cũng tuyệt nhiên không biết nó ra sao vì không hề có hồi âm. Thế là hết tuần này đến tuần khác, chúng tôi đành viết đi viết lại một bức thư, chép đi chép lại những lời kêu gọi tới mức những từ ngữ lúc đầu thốt ra tưởng như mang theo dòng máu con tim mình, nhưng chỉ ít lâu sau đã mất hết mọi nội dung ý nghĩa. Thế là chúng tôi ghi chép lại như những cái máy, tìm cách dùng những lời văn không hồn này đưa tin về cuộc sống gian khổ của mình. Và để kết thúc, chúng tôi thấy thà dùng mấy tiếng gọi ước lệ của điện tín còn hơn cái lối độc thoại vô ích và bướng bỉnh, cái lối “trò chuyện” vô vị với một bức tường.
Vả lại, sau vài ngày, khi đã rõ ràng là không một ai có thể ra khỏi thành phố, thì người ta nảy ra ý kiến hỏi xem những người ra đi trước khi có dịch, nay có được phép trở về không. Sau mấy ngày suy nghĩ, tỉnh trả lời về được. Nhưng nói rõ là những người trở về, bất luận thế nào, cũng không được ra khỏi thành phố một lần nữa: họ được tự do trở về, nhưng không được tự do ra đi. Tuy vậy, một vài gia đình nhẹ dạ - số này không nhiều - vẫn thiết tha gặp lại người thân hơn là cân nhắc thận trọng, và yêu cầu người thân nắm lấy cơ hội. Nhưng ngay sau đó, những người bị dịch hạch cầm tù hiểu ra mối hiểm họa đe dọa người thân nếu họ trở về nên đành chịu đựng nỗi đau ly biệt. Vào giai đoạn dịch bệnh hoành hành dữ dội nhất, chỉ có một trường hợp tình cảm con người mạnh hơn nỗi sợ hãi đối với một cái chết quằn quại. Đó không phải - như bạn đọc có thể mong đợi - là hai người yêu mà tình ái xô đẩy họ lại với nhau, bất chấp bệnh tật. Đó chỉ là trường hợp hai vợ chồng bác sĩ già Castel lấy nhau từ lâu. Mấy hôm trước khi xảy ra dịch bệnh, bà Castel đi sang một thành phố bên cạnh. Đây không phải là một gia đình nêu cao tấm gương hạnh phúc và người kể chuyện có thể nói rằng đại thể, hai vợ chồng này, đến nay không tin chắc là họ mãn nguyện về cuộc hôn phối của mình. Nhưng sự chia cắt phũ phàng và kéo dài khiến họ thấy không thể sống xa nhau, và bên cạnh cái chân lý bỗng nhiên sáng tỏ ấy, bệnh dịch hạch chẳng có gì đáng kể.
Đây là một ngoại lệ. Còn ngoài ra thì hiển nhiên là cảnh ly biệt chỉ chấm dứt khi dịch bệnh chấm dứt. Và đối với tất cả chúng tôi, nguồn tình cảm tạo nên cuộc sống của mình và mặc dù mình tưởng như đã biết rõ (tình cảm người Oran, như chúng tôi đã nói, là những tình cảm giản dị), bỗng mang một sắc thái mới. Những người chồng và những người yêu vốn hết mực tin tưởng ở người bạn đời của mình, bỗng nhiên thấy mình ghen tuông. Những anh chàng đinh ninh phù phiếm trong tình yêu, nay bỗng trở nên chung thủy. Những cậu con trai trước kia sống bên cạnh mẹ nhưng hầu như không nhìn thấy mẹ, nay bỗng hết sức lo lắng và ân hận khi trong ký ức hiện lên một nét mặt của mẹ. Sự chia ly phũ phàng triệt để, không thể đoán định tương lai sẽ ra sao, làm chúng tôi bối rối, không sao cưỡng lại cái kỷ niệm về sự có mặt còn rất gần gũi nhưng đã rất xa xăm này, kỷ niệm ấy giờ đây choán hết ngày tháng của chúng tôi. Thực ra, chúng tôi đau đến hai lần - trước hết đau nỗi đau của chính mình và sau nữa là nỗi đau mà chúng tôi tưởng tượng ra của người vắng mặt, người vợ, người yêu, đứa con.
Vả lại, trong những trường hợp khác, đồng bào chúng tôi chắc hẳn tìm thấy lối thoát trong một cuộc sống ngoại hình hơn và sôi nổi hơn. Nhưng đồng thời dịch hạch khiến họ phải ăn không ngồi rồi, quẩn quanh trong cái thành phố buồn tẻ và ngày ngày phó mình cho những trò phỉnh phờ của ký ức. Vì trong những buổi dạo chơi thơ thẩn, bao giờ bước chân cũng dun dủi đưa họ đến vẫn con đường nọ và trong một thành phố thật là bé nhỏ, thông thường đó chính là những con đường trước kia họ đã cùng đi với người thân giờ đây vắng mặt.
Thế là trước hết dịch hạch gây nên cảnh chia ly. Và người kể chuyện ở đây đinh ninh mình có thể nhân danh mọi người viết ra cái mà chính bản thân mình đã cảm thấy bởi vì anh đã cảm thấy điều đó đồng thời với nhiều đồng bào khác của mình. Đúng, chúng tôi luôn luôn cảm thấy trống trải trong lòng, khi thì một cách phi lý muốn trở về với quá khứ, khi thì ngược lại muốn thúc đẩy thời gian. Cảm giác biệt ly như những mũi tên cháy bỏng của ký ức. Nếu thảng hoặc chúng tôi có thả mình theo dòng tưởng tượng, có muốn chờ nghe tiếng chuông của người trở về hay một bước chân thân thuộc trên cầu thang; nếu vào những lúc đó chúng tôi có muốn quên đi cái thực tại là các đoàn xe lửa đã không còn nhúc nhích; nếu lúc đó chúng tôi có thu xếp để ở lại vào giờ phút mà thông thường một du khách đáp chuyến tàu nhanh buổi tối có thể đến khu phố mình đi nữa, thì dĩ nhiên những cái trò ấy cũng không thể kéo dài. Nhất định sẽ tới một lúc chúng tôi thấy rõ ràng là các chuyến xe lửa không đến. Lúc đó chúng tôi mới biết là cảnh biệt ly sẽ kéo dài và mình phải gắng sức thu xếp với thời gian. Từ ấy, chúng tôi trở lại cuộc sống giam hãm của mình, chúng tôi chỉ còn biết quá khứ, và dù cho đôi lúc có vài người tấp tểnh muốn sống với tương lai thì cũng phải nhanh chóng khước từ khi cảm thấy nhức nhối những vết thương lòng mà cuối cùng trí tưởng tượng buộc những ai tin cậy nó phải chịu đựng.
Đặc biệt là đồng bào chúng tôi đã rất nhanh chóng, ngay cả ở những nơi công cộng, từ bỏ cái thói quen - mà họ đã tạo lập cho mình - là ước lượng thời gian xa cách. Vì sao? Vì khi những người bi quan nhất định cho nó là sáu tháng chẳng hạn, khi họ đã uống cạn trước đi tất cả nỗi chua xót của những tháng ngày sắp tới, hết sức vất vả nâng ý chí lên ngang tầm sự thử thách ấy, đưa hết sức lực còn lại để khỏi quỵ trước nỗi khổ đau kéo dài qua biết bao tháng ngày đằng đẵng, thì thỉnh thoảng, một người bạn gặp gỡ tình cờ, một ý kiến được nêu lên trên báo, một thoáng ngờ vực hay một sự sáng suốt bất thần, lại khiến họ nghĩ ngợi rằng dẫu sao cũng không có lý do gì mà dịch bệnh không kéo dài hơn sáu tháng, và có thể một năm, hoặc hơn thế nữa.
Lúc đó, ý chí, dũng khí và lòng kiên nhẫn suy sụp đột ngột tới mức họ tưởng như không bao giờ còn có thể thoát khỏi cái hố sâu thăm thẳm này nữa. Vì vậy họ đành nhẫn nhục không bao giờ còn nghĩ tới lúc nào mình được giải thoát, họ không còn hướng về ngày mai và luôn luôn cúi mặt xuống - nếu có thể nói như vậy. Nhưng dĩ nhiên thái độ khôn ngoan ấy, cái lối đánh lừa nỗi đau thương và khép thế lại để từ chối cuộc chiến đấu như vậy, đã không được đền đáp xứng đáng. Thật vậy, khi trốn tránh tình trạng suy sụp mà họ không muốn có với bất kỳ giá nào, thì đồng thời họ cũng không được hưởng những phút giây - kể ra có khá nhiều - họ có thể quên dịch bệnh đi trong khi nghĩ tới viễn cảnh những buổi đoàn tụ trong tương lai. Và từ đó, treo mình lơ lửng giữa vực thẳm và đỉnh cao, họ vật vờ hơn là họ sống, phó mặc cho những tháng ngày vô định, cho những kỷ niệm cằn cỗi, những cái bóng chập chờn chỉ có được sức mạnh khi chịu cắm sâu vào mảnh đất đau thương của mình.
Cứ như thế, họ cảm thấy nỗi đau khổ sâu xa của mọi người bị giam cầm và lưu đày, nỗi đau khổ phải sống với một ký ức hoàn toàn vô tích sự. Chính cái quá khứ mà họ không ngừng nghĩ tới ấy chỉ có dư vị của luyến tiếc. Quả là giá như có thể được, thì họ muốn đưa thêm vào quá khứ ấy tất cả những gì họ ân hận đã không làm khi, trước kia, họ có thể làm được đối với người mà giờ đây họ mong ngóng. Họ muốn người vắng mặt cùng mình chia sẻ mọi hoàn cảnh, dù chỉ tương đối êm đềm, trong cuộc sống tù nhân của mình. Nhưng tình cảm của họ không thể làm họ mãn nguyện. Bực tức hiện tại, thù nghịch với quá khứ và không có tương lai, chúng tôi thật chẳng khác nào những kẻ mà công lý hoặc lòng căm ghét của loài người buộc phải sống sau chấn song sắt. Cuối cùng, cách duy nhất thoát khỏi những ngày nghỉ không thể chịu nổi ấy, là lại cho những chuyến xe lửa chạy bằng tưởng tượng và lấp những giờ trống bằng tiếng leng keng liên hồi của cái chuông ngoài cửa cứ lì lợm lặng im.
Nhưng nói đến lưu đày thì trong phần lớn các trường hợp là cảnh lưu đày tại nhà mình. Và tuy người kể chuyện ở đây chỉ chịu cảnh lưu đày như mọi người, anh ta cũng không được quên những người như nhà báo Rambert hay những người khác nữa: là những du khách bị dịch hạch bất chợt và bị giữ lại trong thành phố, họ phải xa cách vừa người thân vừa quê hương xứ sở. Bởi thế nỗi đau ly biệt tăng lên gấp bội. Trong cảnh biệt ly chung, họ là những người chịu nỗi đau nặng nề hơn cả, vì nếu cũng như đối với mọi người, thời gian gợi lên cho họ nỗi lo âu riêng của nó, thì đồng thời họ cũng lại bị trói chặt vào không gian và luôn luôn vấp phải những bức trường thành ngăn cách nơi bị nhiễm dịch họ đang trú ngụ với quê hương xa xôi của họ. Chắc hẳn họ chính là những người lang thang suốt ngày trong cái thành phố bụi bặm, thầm lặng gợi lại những buổi tối mà chỉ riêng một mình họ biết, gợi lại những buổi sáng của quê hương. Thế là họ ấp ủ nỗi nhớ quê hương bằng những tín hiệu nhỏ nhoi hay những thông điệp ngỡ ngàng: một cánh én bay, một giọt sương chiều, những tia nắng kỳ lạ thỉnh thoảng mặt trời để rớt lại trên những đường phố hoang vắng. Cái thế giới bên ngoài ấy luôn luôn có thể giải thoát ngƣời ta khỏi tất cả, nhưng họ không hề để mắt vì khăng khăng ấp ủ những ảo ảnh quá thực và ra sức đeo đuổi hình ảnh một miền đất mà ở đây, một ít ánh sáng, vài ba ngọn đồi, một gốc cây thân thương và những khuôn mặt phụ nữ tạo thành một bầu không khí không sao có thể thay thế được đối với họ.
Cuối cùng, để nói rõ hơn về những người đang yêu là những người đáng nói tới hơn cả và có lẽ người kể chuyện ở đây có điều kiện hơn để nói - họ còn bị giày vò bởi những nỗi lo âu khác, trong đó phải kể tới sự ân hận. Quả là tình thế cho phép họ xem xét tình cảm của mình với một thái độ khách quan đến cuồng nhiệt. Và trong những hoàn cảnh này, ít khi họ không thấy rành rọt sự bất lực của bản thân mình. Trước hết, họ có thể hình dung chính xác hành động và cử chỉ của người vắng mặt. Họ phàn nàn không biết được lịch thời gian của người thân; họ tự trách mình đã lơ là không hỏi cho biết và làm như thế đối với người đang yêu thì lịch thời gian của người mình yêu không phải là ngọn nguồn của mọi niềm vui. Bắt đầu từ đó, họ dễ dàng đi ngược dòng chuỗi ngày yêu đương và xem xét những mặt khiếm khuyết của nó. Lúc bình thường, tự giác hay không tự giác, tất cả chúng ta đều biết không có một tình yêu nào là tuyệt đỉnh cả, thế nhưng chúng ta lại chấp nhận, với thái độ khá bình tĩnh, tình yêu của bản thân mình là một tình yêu tầm thường. Còn kỷ niệm thì khe khắt hơn. Và một cách rất hợp lý, cái tai họa từ bên ngoài đến với chúng tôi và giáng xuống cả một thành phố, cái tai họa ấy chỉ mang đến cho chúng tôi một niềm đau thương vô lý đáng làm chúng tôi phẫn nộ. Nó còn khiến chúng tôi tự mình làm mình đau khổ và do vậy chấp nhận lấy đau khổ. Chính dịch bệnh dùng cách đó để đánh lạc hướng và làm cho tình thế thêm rối ren.
Thế là mỗi người đành phải sống ngày nào biết ngày ấy và sống một mình đối diện với Thượng đế. Cái thái độ phó mặc của mọi người, về lâu về dài có thể tôi luyện tính cách, nhưng mới đầu thì chỉ làm cho chúng trở nên phù phiếm. Đối với một vài đồng bào chúng tôi, chẳng hạn, lúc đó, họ phải chịu một thứ tình trạng nô lệ khác buộc chặt họ vào nắng vào mưa. Nhìn họ, người ta tưởng như lần đầu tiên và một cách trực tiếp, họ có cảm giác về thời tiết. Chỉ cần một tia nắng vàng là nét mặt họ trở nên rạng rỡ, còn những ngày mưa thì như trùm một tấm khăn dày lên mặt mày và tâm tư họ. Mấy tuần lễ trước, họ thoát khỏi tình trạng yếu đuối và nô dịch phi lý ấy vì không phải chỉ có mình họ đối diện với đất trời và vì, trong một chừng mực nhất định, người thân trước kia cùng sống với họ, nay có mặt trong vũ trụ của họ. Trái lại, bắt đầu từ phút giây này, rõ ràng họ đành phó mặc cho những đổi thay thất thường của trời đất, nghĩa là họ đau buồn hay hy vọng đều vô căn cứ cả.
Cuối cùng, trong nỗi cô đơn tột đỉnh ấy, không một ai có thể hy vọng sự giúp đỡ của xóm giềng và mỗi người sống một mình với mối quan tâm của riêng mình. Nếu tình cờ một ai trong chúng tôi muốn thổ lộ chút tâm tình, thì câu trả lời, bất luận như thế nào, cũng thường làm người ấy tự ái. Lúc đó, họ thấy người đối thoại và mình không cùng nói về một điều giống nhau. Thật vậy, anh ta thì bộc lộ tâm tình sau bao tháng ngày nghiền ngẫm và đau thương, và cái hình ảnh anh ta muốn khơi gợi đã được nung nấu biết bao lâu trong ngọn lửa đợi chờ và yêu thương. Trái lại, người kia thì hình dung một thứ tình cảm ước lệ, nỗi niềm đau thương “bán rong ở chợ”, một thứ sầu não nhan nhản hằng ngày. Dù nhân ái hay thù địch, câu trả lời cũng không bao giờ đúng chỗ, không sao chấp nhận nổi. Hoặc chí ít, đối với những ai không sao chịu nổi sự lặng im, trong khi những người khác không thể tìm thấy tiếng nói chân chính của con tim, thì họ đành dùng thứ ngôn ngữ thường tình[1] và nói, theo phương thức ước lệ, tiếng nói của quan hệ bình tường và của việc vặt vãnh, có thể nói là của tin tức hằng ngày. Cả ở đây nữa, những nỗi đau thương chân thực nhất cũng vẫn được diễn tả bằng những công thức trò chuyện nhàm chán. Chỉ có với giá đó những người bị dịch hạch cầm tù mới có thể tranh thủ được sự thông cảm của người gác cổng hay sự chú ý của người nghe.
Thế nhưng - và ở đây là điều quan trọng nhất dù những nỗi kinh hoàng đau xót tới đâu, dù trái tim, tuy trống rỗng, đè nặng lên cuộc sống tới đâu, vẫn có thể nói rằng trong thời kỳ đầu dịch bệnh, những người bị lưu đày này là những người được ưu đãi. Thật vậy, chính vào lúc dân chúng bắt dầu hốt hoảng thì tâm tưởng của họ hoàn toàn hướng về người thân họ mong ngóng. Trong nỗi phiền muộn chung, tính ích kỷ trong tình yêu bảo vệ họ, và nếu họ có nghĩ tới dịch hạch thì cũng chỉ ở chỗ nó có cơ làm cho cảnh ly biệt trở thành vĩnh viễn. Cứ thế, chính giữa lúc dịch bệnh hoành hành, họ có một lối giải trí bổ ích mà người ta có thể cho là sự bình tĩnh. Nỗi tuyệt vọng cứu thoát họ khỏi cơn khủng khiếp, tai họa có mặt tốt đối với họ. Dù có một người trong số họ bị tử vong vì dịch bệnh, chẳng hạn, thì hầu như bao giờ họ cũng chẳng có thể để ý tới nữa. Rút khỏi cuộc đối thoại tâm tình kéo dài với một hình bóng, thà là họ bị ném đột ngột vào sự lặng im sâu xa nhất của đất. Trước đó, họ không hề có thì giờ làm gì hết.
Trong khi đồng bào chúng tôi tìm cách thu xếp với tình cảnh lưu đày đột ngột này, thì vì dịch hạch, ngƣời ta đặt trạm gác ở các cửa ngõ thành phố và buộc các con tàu biển trên đường Oran quay trở lại. Từ đó, không một cỗ xe nào vào thành phố. Và người ta có cảm giác ôtô chạy vòng quanh. Bến cảng cũng có một vẻ kỳ lạ đối với những người từ trên cao các đại lộ nhìn xuống. Cảnh nhộn nhịp thường ngày khiến nơi đây vốn là một trong những bến cảng quan trọng nhất trên bờ biển bỗng nhiên tàn lụi. Chỉ còn vài con tàu đang bị giữ lại kiểm dịch. Nhưng trên bến cảng, những chiếc cần trục đồ sộ bỏ không, những toa goòng lật nghiêng, những chồng thùng phuy hay bao tải trơ trọi, tất cả chứng tỏ rằng chính nền thương mại cũng chết vì dịch hạch.
Mặc dù những cảnh tượng khác thường ấy, rõ ràng đồng bào chúng tôi vẫn khó có thể hiểu tình hình gì đã xảy ra đối với họ. Họ có những tình cảm giống nhau như nỗi xa cách hay sự sợ hãi, nhưng vẫn đặt những công việc cá nhân lên hàng đầu. Chưa một ai thực sự thừa nhận dịch bệnh. Chủ yếu, số đông nhạy cảm với những gì xáo trộn thói quen hoặc đụng tới quyền lợi của họ. Họ bực tức, khó chịu, nhưng đó không phải là những tình cảm có thể đem chống chọi với dịch hạch. Phản ứng đầu tiên của họ, chẳng hạn, là đổ trách nhiệm cho bộ máy nhà nước. Câu trả lời của ông tỉnh trưởng đối với những lời chỉ trích mà báo chí phản ánh (“Phải chăng không thể nghĩ tới việc thực hiện mềm dẻo hơn những biện pháp đã đặt ra?”) là khá bất ngờ. Cho tới lúc này, báo chí cũng như hãng Ransdoc chưa được thông báo chính thức những con số thống kê dịch bệnh. Giờ đây, thị trưởng thông báo hàng ngày cho hãng này và yêu cầu đưa tin từng tuần một.
Nhưng vẫn không có sự phản ứng tức thời của công chúng. Thật vậy, cái tin ba trăm linh hai người chết về dịch hạch trong tuần thứ ba vẫn không làm người ta xao xuyến. Một mặt, có thể không phải tất cả đều chết vì dịch hạch. Và mặt khác, không một ai trong thành phố biết là lúc bình thường, mỗi tuần có bao nhiêu người chết. Thành phố có hai trăm nghìn dân. Người ta không rõ cái tỷ lệ người chết này có bình thường hay không. Thậm chí đó là loại những con số chính xác mà không bao giờ người ta quan tâm, mặc dù hiển nhiên chúng đáng được chú ý. Có thể nói công chúng không có cơ sở so sánh. Chỉ lâu dần, khi thấy số người chết ngày một tăng, dư luận mới nhận ra sự thật. Quả là tuần thứ năm có ba trăm hai mươi mốt người chết và tuần thứ sáu, ba trăm bốn mươi lăm người. Ít ra những con số tăng dần cũng khá hùng biện. Nhưng không đủ mạnh nên đồng bào chúng tôi, trong không khí lo âu, vẫn có cảm tưởng đây là một sự kiện, dĩ nhiên tai hại, nhưng dẫu sao cũng chỉ nhất thời.
Họ vẫn tiếp tục qua lại trên đường phố, ngồi trước các tiệm cà phê. Nói chung, họ không hèn nhát, họ đùa cợt nhiều hơn kêu ca và tỏ ra vẻ vui lòng chịu đựng những điều bất tiện họ đinh ninh là nhất thời. Bộ mặt bề ngoài vẫn được giữ gìn. Nhưng vào khoảng cuối tháng và hầu như trong tuần lễ cầu kinh - mà chúng tôi sẽ nói tới sau - có những sự kiện quan trọng làm biến đổi quang cảnh thành phố. Trước hết, tỉnh trưởng thi hành những biện pháp đối với tiếp tế và giao thông. Tiếp tế bị hạn chế và xăng, cấp theo định lượng. Thậm chí quy định tiết kiệm điện. Chỉ có nhu yếu phẩm mới được đưa tới Oran bằng đường bộ và đường không. Giao thông giảm dần tới mức hầu như không còn gì nữa, các cửa hiệu bán hàng xa xỉ đóng cửa ngày một ngày hai, những hiệu khác thì treo biển hết hàng trong tủ kính, trong lúc người mua đứng hàng dài trước cửa.
Bộ mặt Oran trở nên khác thường. Số lượng người đi bộ tăng lên rất nhanh và thậm chí vào những giờ thành phố ít hoạt động, nhiều người rảnh rỗi vì các cửa hiệu hay một số công sở đóng cửa, vẫn đi chật đường hay chen chúc ở các tiệm cà phê. Đến lúc này, họ chưa phải thất nghiệp mà là nghỉ việc. Thế là vào khoảng ba giờ chiều chẳng hạn, và dưới một bầu trời đẹp đẽ, Oran cho người ta cái ảo giác về một thành phố ngày hội, giao thông đình lại và cửa hiệu đóng cửa để tổ chức một buổi biểu dương công cộng, và dân chúng ùa ra đường phố tham dự các trò vui.
Dĩ nhiên, các rạp chiếu bóng lợi dụng tình trạng nghỉ ngơi chung này và thu rất bẫm. Nhưng vòng quay trong tỉnh của các bộ phim bị cắt đứt. Sau hai tuần lễ, các rạp buộc phải đổi chương trình cho nhau, và ít lâu sau, đành phải chiếu đi chiếu lại một bộ phim. Nhưng thu nhập vẫn không giảm.
Còn các tiệm cà phê, thì nhờ những kho dự trữ đồ sộ trong một thành phố mà việc buôn bán vang và rượu giữ vị trí hàng đầu, nên vẫn tiếp tục bán hàng. Nói đúng ra, người ta uống rượu nhiều. Một tiệm cà phê quảng cáo là “vang chính hiệu tiêu diệt vi sinh vật”, thế là dư luận quần chúng lại càng tin - như trước đây họ đã từng tin một cách tự nhiên - là rượu phòng ngừa được các bệnh nhiễm khuẩn. Đêm nào cũng vậy, vào khoảng hai giờ, khá nhiều kẻ say rượu bị tống ra khỏi các quán cà phê đi chật cả đường và tuôn ra những lời lẽ lạc quan.
Nhưng mọi sự đổi thay ấy, về một mặt nào đó, kỳ lạ và diễn ra nhanh chóng đến mức khó có thể xem chúng là bình thường và bền vững. Kết quả là người ta tiếp tục đặt tình cảm riêng tư lên hàng đầu.
Hai ngày sau khi thành phố đóng cửa, bác sĩ Rieux bước ra khỏi bệnh viện thì gặp Cottard. Hắn ngửng về phía ông một khuôn mặt mãn nguyện. Rieux khen hắn về cái vẻ tươi tỉnh ấy.
- Vâng, tôi rất mạnh khỏe, anh chàng người bé nhỏ trả lời. Thưa bác sĩ, bác sĩ cho tôi biết cái bệnh dịch hạch khốn kiếp ấy bắt đầu trở nên nghiêm trọng phải không?
Rieux thừa nhận. Còn hắn thì nhận xét với một vẻ thích thú:
- Không có lý do gì bây giờ nó dừng lại. Sẽ lộn tùng phèo lên tất cả cho mà xem!
Hai người cùng đi với nhau một lát. Cottard kể là một nhà buôn tạp hóa lớn trong khu phố hắn cắt trừ thực phẩm để bán giá đắt và người ta tìm thấy đồ hộp dưới giường hắn khi đến đưa hắn đi bệnh viện. “Hắn đã chết ở viện. Dịch hạch, không thể trả giá được”. Cottard có không biết bao nhiêu là chuyện - chuyện thật hay chuyện giả - về dịch bệnh. Người ta nói, chẳng hạn, ở trung tâm thành phố, một buổi sáng, một gã đàn ông có những dấu hiệu dịch hạch, và trong cơn mê sảng vì bệnh tật, đã xông ra đường, nhảy xổ vào một người phụ nữ đầu tiên hắn gặp và vừa ôm riết bà ta vừa la ầm ĩ là hắn bị dịch hạch.
- Thế đấy! Cottard nhận xét với một giọng dễ thương không hợp với lời khẳng định của hắn, tất cả chúng ta đều sẽ điên hết cả thôi, chắc chắn là như vậy.
Ngay buổi chiều hôm đó, Joseph Grand cũng tâm sự với bác sĩ Rieux. Anh trông thấy bức ảnh bà Rieux trên bàn giấy và quay nhìn Rieux. Ông bảo là vợ ông đang đi chữa bệnh, không có mặt trong thành phố. “Về một mặt nào đó, Grand nói, thế là may mắn”. Rieux cho đó quả là điều may mắn và hy vọng vợ ông sẽ khỏi bệnh.
- A! Grand thốt lên, tôi hiểu.
Và lần đầu tiên Grand nói nhiều từ khi Rieux biết anh. Anh vẫn phải tìm từ để diễn đạt nhưng hầu như bao giờ cũng tìm được, như thể anh nghĩ ngợi từ lâu về những điều mình đang nói.
Anh kết hôn lúc còn rất trẻ với một cô gái nghèo hàng xóm. Để cưới vợ, anh phải bỏ học và kiếm việc làm. Cả Jeanne lẫn anh không bao giờ ra khỏi khu phố. Anh đến thăm người yêu, và bố mẹ Jeanne vẫn thường chế giễu cái anh chàng cầu hôn ít lời và vụng về này. Ông bố làm ngành đường sắt. Khi nghỉ ngơi, bao giờ ông cũng ngồi trầm tư trong một góc nhà, cạnh cửa sổ, nhìn cảnh tượng đường phố, hai bàn tay to sụ đặt úp trên đùi. Bà mẹ suốt ngày lo công việc gia đình và Jeanne giúp đỡ bà. Người nàng nhỏ nhắn đến nỗi hễ thấy nàng đi qua đường là Grand lại lo ngại. Lúc đó, anh thấy xe cộ qua lại tựa như những vật khổng lồ. Một hôm, trước một cửa hiệu bán quà Nôen, Jeanne, lúc đó đang trầm trồ trước tủ kính, ngả người vào anh và nói: “Đẹp quá!” Anh nắm cổ tay cô gái. Và thế là họ quyết định kết hôn.
Câu chuyện còn lại - theo Grand - rất đơn giản. Mọi người đều như thế cả: người ta lấy nhau, còn yêu nhau chút ít và làm việc. Làm việc tới mức quên cả yêu. Jeanne cũng làm việc vì người ta không giữ lời hứa trước kia của tay chủ sự với Grand. Ở đây, cần có chút óc tưởng tượng để hiểu Grand muốn nói gì. Vì mệt nhọc, anh ta đâm chán nản, ngày càng ít nói và không làm cho người vợ trẻ tin rằng cô được yêu. Một người đàn ông phải làm lụng, cảnh nghèo đói, cánh cửa tương lai bị khép lại dần; cái im ắng buổi tối quanh bàn ăn, trong bầu không khí như thế thì không còn có chỗ cho đắm say. Chắc hẳn Jeanne đau khổ. Nhưng nàng vẫn ở lại: có khi người ta đau khổ mãi mà không hay biết. Năm tháng trôi qua. Về sau nàng ra đi. Dĩ nhiên, không phải ra đi một mình. “Em đã yêu anh nhiều lắm, nhưng bây giờ em mệt mỏi… Em không sung sướng gì phải ra đi, nhưng để bắt đầu lại thì người ta không cần phải sung sướng”. Trên đại thể, nàng đã viết thư cho anh như vậy.
Đến lượt mình, Joseph Grand cũng đau khổ. Nhẽ ra anh có thể bắt đầu lại, như Rieux nói với anh. Nhưng anh đã mất lòng tin.
Chỉ có điều là anh luôn nghĩ tới nàng. Anh muốn viết thư cho nàng để thanh minh. “Nhưng khó quá. Tôi đã nghĩ tới điều đó từ lâu. Chừng nào còn yêu nhau thì chúng tôi hiểu nhau mà không cần nói ra thành lời. Nhưng không phải bao giờ người ta cũng yêu nhau. Nhẽ ra vào một lúc nào đó, tôi phải tìm được lời lẽ để giữ nàng lại, nhưng tôi đã không làm được”. Grand hỉ mũi vào một chiếc khăn kẻ vuông. Rồi chùi râu mép. Rieux nhìn anh.
- Xin bác sĩ thứ lỗi, anh nói, nhưng biết nói thế nào nhỉ?… Tôi tin ông. Với ông, tôi có thể nói được. Và thế là tôi xúc động.

---------------

[1] Nguyên văn: Ngôn ngữ chợ búa.